Hôm nay,  

Quà Tết Không Người Nhận

06/03/202600:00:00(Xem: 1543)

Quà-Tết-Không-Người-Nhận
Quà Tết (hình tác giả cung cấp)

Tác giả tên thật là Phương Nguyễn. Sinh năm 1957 tại Phủ Cam, Huế, là cựu học sinh trường Jeanne D’Arc. Bà hiện ở tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Tác giả vừa nhận giải Đặc Biệt năm 2023. Bài viết kỳ này kể về cô giáo cũ của tác giả từ cảnh đời tươi vui, sum họp đầm ấm nơi quê nhà đến phút cuối ra đi cô đơn, lặng lẽ trong nhà dưỡng lão nơi xứ người.Qua đó là tấm lòng chân thành đáng quý của những người học trò đối với cô giáo của mình dù đã trải qua bao năm xa cách.
 
 ***
  
Chiều thứ Ba, ngày mùng một tết Bính Ngọ. Cô bạn gái của tôi tên Thi gọi điện thoại, chúc tết, sau đó nói chuyện, giọng không còn giòn giã như mọi ngày, có gì đó ngập ngừng.
 
- Hôm qua mình vô viện dưỡng lão thăm anh Minh chồng của Nữ, đi qua hành lang, thấy một bà ngồi xe lăn, quay mặt ra vườn, nhìn phớt qua có nét giống cô Tâm dạy toán của tụi mình ngày xưa. “You” chạy qua coi thử có phải cô Tâm không, báo cho mình biết với, cũng để coi bộ nhớ của tớ còn tốt hay không.
 
Lòng tôi dao động, hỏi lại:
- Cô Tâm dạy toán hả?
Cái tên ấy, như một cánh cửa bật mở, đưa tôi trở về những năm tháng cũ. Tôi và Xuân là bạn học rất thân, Xuân là em gái của cô Tâm, nhà  của Xuân là một dãy nhà  ngói xưa, nhà to, nhà nhỏ, nối liền nhau, người ta gọi là phủ. Nhà nằm khuất sâu sau sân lát gạch rộng, bị che khuất bởi nhiều cây lưu niên như nhãn, vú sữa, mãng cầu, hai hàng cây cau, vườn hoa hồng, hoa tường vi, giàn dạ lý…
 
Nhà Xuân ở ngã ba, cuối đường Trưng Trắc, và đường Phan Đình Phùng, mặt tiền quay ra sông An Cựu, tôi thường tới nhà làm bài tập với Xuân, có nhiều hôm ăn cơm ké với gia đình. Tôi chưa lần nào gặp ba của Xuân, nghe nói ông cụ làm việc ở Sài Gòn. Đó là gia đình thuộc hàng danh gia vọng tộc của Huế.
 
Cô Tâm lúc ấy rất đẹp, không phải vẽ đẹp rực rỡ, mà đẹp dịu dàng, kín đáo, cô thường mặc áo dài màu nhạt, càng tăng thêm vẽ quý phái của một cô giáo. Tóc thường búi gọn, gương mặt nghiêm, nhưng ánh mắt hiền. Chồng cô tên Cung, làm việc trong ty Cảnh Sát, không biết làm chức gì mà có xe hơi đưa đón, tôi gặp anh mấy lần, anh ít nói, chỉ gật đầu chào. Mỗi khi thấy hai đứa tôi ngồi làm bài, cô Tâm luôn nhắc:
- Hai đứa ráng học, trai gái chi cũng phải có mảnh bằng mới có tương lai.
 
Ngày 30 tháng 4 năm 1975. Mọi thứ đều sụp đổ.
 
Như bao gia đình Quân, Cán, Chính, miền Nam, anh Cung bị bắt đi tù, Cô giáo Tâm bị buộc thôi dạy học. Từ một cô giáo dạy học thuần túy, nay trở thành người “Lý lịch có vấn đề.” Gia đình cô, chính quyền bắt phải đi kinh tế mới.
 
Tôi nhớ cái ngày đứng bên đường Phan Đình Phùng tiễn gia đình cô Tâm lên đường, Xuân khóc rất nhiều, mặt cô Tâm thất thần, hai cháu nhỏ một trai một gái khóc vật vã, đoàn xe từ từ lăn bánh, đưa những gia đình tội nghiệp rời thành phố.
Cuộc sống người dân miền Nam, nhất là ở Huế, sau ngày ấy, đói rã ruột, mọi người lăn vào việc chống đói, quần quật chạy kiếm miếng ăn, hạt bo bo, khoai, sắn. Sợi dây liên kết bạn bè ngày càng thưa dần, rồi như đi vào quên lãng.
 
Mấy chục năm, sau ngày định mệnh của đất nước 1975, tôi được đi định cư tại Hoa Kỳ. Cuộc sống ở đất nước này chúng ta đều biết, cơ hội luôn chào đón những ai tích cực làm việc, mọi ký ức vùi sâu vào góc khuất của tâm hồn. Hôm nay được Thi gọi báo tin, kỷ niệm thời học trò sống lại.
 
Trưa mùng Hai tôi vào viện dưỡng lão theo địa chỉ Thi cho. Đi dọc dảy hành lang dài, mùi thuốc sát trùng, mùi thơm giấy “Ultrasoft” từ máy giặt đâu đó quyện vào  nhau, tôi thấy người đàn bà ngồi trên xe lăn, cạnh cửa sổ, tóc bạc trắng, lưng hơi còng, gương mặt hốc hác. Nét đẹp ngày xưa vẫn còn đọng lại, tôi nhận ra cô, mặc dù đã năm mươi năm không gặp. Tôi hồi hộp, tới gần hỏi:
- Dạ! Xin lỗi! Cô có phải là cô Tâm không ạ?
 
Cô quay lại, đôi mắt mờ đục, sâu thẳm, nhìn tôi thật lâu, cô đáp:
- Dạ phải.
 
Tôi nói:
-Dạ thưa cô! Em là học trò cũ của cô đây.
 
Đôi mắt cô sáng lên, hỏi lại:
- Em học lớp mấy? Năm nào?
 
Tôi thưa với cô, năm học và lớp, nhắc cho cô nhớ.
- Em là bạn của Xuân, em thường đến nhà cô chơi, nhiều hôm ở lại ăn cơm.
 
 Cô vui vẻ nói:
- Cô nhớ rồi, con bé thường hay học chung với Xuân.
 
Tôi trả lời:
- Dạ! Đúng đó cô ạ.
 
Tôi ngồi chơi, nói chuyện với cô suốt buổi chiều. Cô kể chuyện củ, giọng buồn, đứt quãng:
- Họ coi mình như những người tù khổ sai, hốt thả vô rừng, chặt cây, cuốc đất, gọi là kinh tế mới, mấy tháng đầu, mỗi tháng được cấp mấy kí lô gạo và sắn lát khô.
 
Làm thế nào để có đồ ăn tiếp, sau ngày hết cung cấp gạo, muốn trốn khỏi đó cũng không được, thứ nhất không biết đường, không có phương tiện, thứ hai trong túi không có một đồng, thứ ba rời đó rồi đi đâu, hai bàn tay da bong tróc, máu chảy, cô đã trồng, khoai, sắn, nuôi heo, nuôi gà, lúc rảnh, tập trung mấy đứa nhỏ trong xóm, với hai đứa nhỏ nhà mình, dạy cho chúng học chữ.
 
Cô nói tiếp:
- Khi anh Cung ra tù, sức khỏe anh ấy rất yếu, cố gắng vùng vẫy ở vùng đất đó một thời gian, bạn bè của anh người định cư ở Pháp người ở Mỹ, gửi quà tặng, bán lấy tiền trốn về thành phố, để có phương tiện cho hai đứa nhỏ học hành.
Rồi gia đình được đi định cư theo diện HO. Những tưởng cuộc sống mình như vậy là ổn định, không ngờ anh Cung phát bệnh, anh đã không qua khỏi vì di chứng nhiều năm tháng tù tội. Hai cháu lớn, cuộc sống đã cuốn chúng đi xa, mỗi đứa một tiểu bang. Tuy rằng chúng rất thương mẹ.
 
Cô nói câu ấy, ánh mắt xa xăm nhìn ra cửa sổ. Tôi nắm tay cô. Bàn tay khô và lạnh buốt. Trước khi chào cô ra về, tôi nói với cô:
- Cuối tuần này em với con bạn tới thăm cô, gặp con này chắc cô nhớ, vì nó là con quậy nhất lớp.
 
Cô vui lắm. Về nhà tôi gọi cho Thi.
- Thi ơi! Đúng là cô Tâm, chiều nay mình nói chuyện với cô cả buổi, mình hứa Chúa Nhật này hai đứa mình tới thăm cô. Mình sẽ mang biếu cô ít quà tết và cái khăn quàng cổ.
 
Sáng Chúa Nhật chúng tôi hẹn nhau ở bãi đậu xe của viện dưỡng lão. Mỗi đứa xách một túi quà ngang qua văn phòng, cô y tá trực hỏi chúng tôi:
- You’re here for Mrs. Tam? (Hai bạn đến thăm cô Tâm?)
 
Hai chúng tôi đều trả lời:
- Yes. (Vâng, đúng vậy)
 
Cô y tá khẽ lắc đầu nói:
- I’m sorry, I have some bad news for you two. She passed away two nights ago. (Tôi xin lỗi báo tin buồn cho hai bạn. Cô ấy đã mất từ hai đêm trước)
Tai tôi ù, đầu óc choáng váng, Thi buông rớt túi quà xuống nền nhà. Hai đứa đứng chết lặng, nước mắt tuôn trào. Chúng tôi tìm anh Minh. Anh cho biết, viện dưỡng lão này có ba người Việt, nên rất thân nhau, anh vô đây đã gặp cô Tâm rồi, mấy năm nay thỉnh thoảng có một sư cô đến thăm, ngoài ra không thấy ai hết. Anh Minh nói:
- Cô ấy không biết bị bệnh gì mà thường xuyên ra vào bệnh viện, lần này vô cấp cứu đi luôn.
 
Tôi hỏi:
- Vấn đề hậu sự cho cô thế nào anh?
 
Anh Minh nói:
- Có lần nghe cô nói, bán nhà xong, cô gửi tiền cho người học trò cũ, cô học trò ấy là một Sư cô, có tịnh thất ở thành phố này. Như vậy việc hậu sự sẽ do Sư cô ấy lo, theo ý nguyện của cô Tâm lúc còn sống.
 
Tôi nói với anh Minh:
- Tụi em về, đi tìm coi đám tang của cô Tâm sẽ tổ chức nhà quàn nào, rồi sẽ gọi cho anh biết, ngược lại anh cũng vậy có tin gì, điện thoại cho tụi em biết với nghe.
 
Lễ tang đơn giản trong phòng nhỏ của nhà quàn ở đường Aurora, không có tiếng khóc của người thân ruột thịt, ba khăn tang, hai khăn trắng chít đầu của hai đứa chúng tôi, và một khăn trắng quàng cổ của sư cô. Còn lại là sáu người, một sư thầy tụng kinh, hai vợ chồng anh Minh, ông chú ở cùng viện dưỡng lão và hai ông chồng, của tôi và Thi.
 
Tôi đứng lặng suy ngẫm. Bao nhiêu năm đời người. Bao nhiêu biến cố, từ bục giảng đến trại tù của chồng. Từ vùng kinh tế mới đến xứ người. Từ mái nhà đầy đủ người thân, đến căn phòng đơn chiếc của viện dưỡng lão. Cuối cùng chỉ còn ba đứa học trò cũ tiễn cô.
 
Thi sụt sùi khóc. Tôi không khóc được. Nước mắt như đông lại. Nhớ những buổi chiều ở nhà cô. Nhớ Xuân, ở Bình Dương giờ này, nó có biết chị của nó đang cô đơn nằm đây không? Nhớ hai người con của cô, tại sao họ không tới tiễn mẹ.
Người ta nói, thời gian sẽ làm phai mọi thứ, nhưng hình bóng của Thầy Cô, được in vào ký ức, như nét chữ khắc sâu vào bảng đá. Tôi tới gần, nói lời cuối với cô.
 
- Dạ thưa Cô. Trong căn phòng nhỏ và yên tĩnh này, có chín người đứng quanh cô, không có bục giảng, không có bảng đen, không phấn trắng, không có tiếng lao xao của đám học trò. Nhưng thưa cô, điều đó không có nghĩa là cô ra đi trong lặng lẽ. Bởi trong trái tim chúng em, cô luôn hiện diện, em còn nhớ, những buổi chiều nắng nghiêng qua khung cửa lớp học, cô kiên nhẫn giảng đi giảng lại một công thức, một bài toán. Cô dạy chúng em Toán, nhưng điều lớn hơn là cô dạy chúng em cách đứng thẳng trong cuộc đời.
Rồi biến cố tang thương của đất nước đột ngột tới, chồng đi tù, cô bị thôi dạy học, gia đình cô bị đày đi kinh tế mới. Cô từ bục giảng xuống trồng khoai, từ phấn trắng sang cuốc đất, Cô mất nghề, mất lớp, nhưng cô không mất những đứa học trò. Qua xứ người bao nhiêu năm, chúng em không có dịp gặp cô. Được gặp lại cô chỉ một buổi chiều ngắn ngủi, lúc mà cô ngồi trên xe lăn, ngồi bên khung cửa sổ của viện dưỡng lão, nhìn bông tuyết rơi, nhìn những cành cây trơ trụi lá. Cô không nói về nỗi buồn của cô, nhưng em đoán hiểu.
Hôm nay tiễn cô chỉ có ba người thân, là ba đứa học trò, và mấy người bạn già trong viện dưỡng lão. Có thể với người đời thì đám tang của cô quá đơn sơ. Nhưng với chúng em, đây là buổi chia tay đầy tràn yêu thương.
Cô ơi! Nếu ở nơi nào đó, cô nghe được, xin cô hiểu rằng - Những hạt giống cô gieo năm xưa, vẫn còn sống và sống tử tế giữa cuộc đời đầy biến động này.
Là những đứa học trò của cô, chúng em xin mang hình bóng cô suốt đời,
Xin tiễn cô về nơi an nghỉ. Để không còn những buổi chiều cô đơn, ngồi trên xe lăn nhìn qua khung cửa sổ.
 
Lúc hạ huyệt trời bắt đầu mưa nhẹ. Tôi thì thầm nói:
- Cô ơi! Tụi em đang nhìn theo cô đây.
 
Chỉ có tiếng gió đáp lại…
  
Phương Lâm
Đầu Xuân năm Bính Ngọ, 2026.
  

Ý kiến bạn đọc
22/03/202613:47:01
Khách
"Hai cháu lớn, cuộc sống đã cuốn chúng đi xa, mỗi đứa một tiểu bang. Tuy rằng chúng rất thương mẹ.
... Lễ tang đơn giản trong phòng nhỏ của nhà quàn ở đường Aurora, không có tiếng khóc của người thân ruột thịt, ba khăn tang, hai khăn trắng chít đầu của hai đứa chúng tôi, và một khăn trắng quàng cổ của sư cô."
Ðáng buồn là hai đưá con bỏ bê mẹ một minh trong duỡng laõ, tang lễ cũng không về.
21/03/202612:53:21
Khách
Nguời xưa có 2 câu thơ nổi tiếng cho nguời đẹp như co Tâm là "Mỹ nhân tự cổ như danh tuớng, bất hưá nhân gian kiến bạc đầu". Cuộc đời vô thuờng như hoa như mây, đến rồi đi như bài thơ Hoa Phi Hoa cuả Bạch Cư Dị:
"Hoa phi hoa,
Vụ phi vụ.
Dạ bán lai,
Thiên minh khứ.
Lai như xuân mộng kỷ đa thời,
Khứ tự triêu vân vô mịch xứ!"

Dịch nghĩa của FB Thi Viện.
Rằng hoa, thì không phải là hoa,
Rằng mây, thì không phải là mây.
Nửa đêm tới,
Sáng hôm sau lại đi mất.
Khi đến thì như giấc mộng xuân không được bao lâu,
Khi đi thì như mây trời không biết đâu mà tìm lại được.
06/03/202616:54:22
Khách
Học sinh đuợc giáo dục theo giáo lý Khổng Mạnh của VNCH nhơ ơn thầy cô suốt đời, nhưng học sinh cộng sản giáo dục đấu tố cha mẹ, giết thầy giết bạn trong trận Tết Mậu Thân 1968, nhất là học sinh quàng khăn đỏ ỷ thế có công với cách mạng hỗn láo khinh bỉ thầy cô sau 1975. Có lẽ là cái nghiệp báo dân VN phải trả vì tàn ác với dân Chàm và Chân Lạp bị VN cai trị. Không biết du học sinh VN tại Mỹ đuợc Cộng sản giáo dục có còn nhìn thầy cô VNCH tị nạn tại Mỹ phản động có nợ máu hay không? Truớc 1975, quốc ca Bắc Việt có câu Thề phanh thây uống máu quân thù nay đổi thành đuờng vinh quang ... nhưng lời thề phanh thây quân thù khó mà gột rửa. Nuớc Mỹ không đuợc giáo dục như dân Á Châu nên học sinh sinh viên thỉnh thoảng đánh đập hay bắn chết thầy giáo ngay tại truờng học. Giáo dục VNCH theo căn bản Tiên học lễ hậu học văn nên đa số học sinh VNCH học giỏi mà có đức hạnh.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 107,118
Tôi từng được làm quen với ngành điện toán từ thuở người ta còn dùng những chiếc máy lớn bằng cả căn phòng, đục lỗ trên những tấm bìa cứng để đưa chương trình được viết bởi những kỹ sư lập trình vào máy mà hãng IBM từng xây dựng cho công ty điện lực tại Saigon. Hơn ba mươi năm làm kỹ sư, tôi đã chứng kiến bao cuộc đổi thay: từ thời mainframe (máy tính chủ), qua personal computer (máy điện toán cá nhân), đến Internet (mạng điện toán toàn cầu), rồi smartphone (điện thoại thông minh). Nhưng có lẽ chưa bao giờ tôi thấy một làn sóng nào mạnh mẽ, nhanh chóng và sâu rộng như làn sóng Trí Tuệ Nhân Tạo - Artificial Intelligence, thường gọi tắt là AI.
Tôi bắt đầu để ý đến AI không phải bằng một bài báo khoa học hay một buổi hội thảo hoành tráng. Mọi thứ đến rất tình cờ. Một tối, tôi cần viết bản tóm tắt công việc, nhưng đầu óc rối tung. Người bạn ngồi cạnh bảo: “Thử hỏi AI xem, biết đâu giúp được.” Tôi bán tín bán nghi, nhưng rồi vẫn gõ vài dòng vào một công cụ lạ lẫm. Kết quả trả về gọn gàng, súc tích và khá logic. Đó là lần đầu tôi cảm thấy AI giống như một người bạn biết trò chuyện, chứ không chỉ là một cỗ máy lạnh lùng.
Bức chân dung đen trắng không màu mè hoa mỹ của người phụ nữ, trong ngàn vạn phụ nữ vợ của lính, thời đất nước ngã nghiêng, họ đã chiến đấu, không súng, không đạn, không huy chương, không khen thưởng, tất cả cho chồng, lót đường cho con bước lên, để rồi, kết thúc như một vở hài kịch. Được gặp lại chị, tôi vui mừng ôm chặt vai, vào sáng thứ Bảy, tại tiền đường nhà thờ các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam, thuộc Tổng giáo phận Seattle, trước thánh lễ Hôn Phối của người cháu gái gọi tôi bằng Dì, còn Chị, bên họ nhà trai. Tôi hỏi: - Chị lên Oregon mấy ngày rồi, anh đâu hả chị? Để em tới chào anh một tiếng. Chị trả lời: - Ờ! Ờ! Anh không có đây, vào nhà thờ đã....
Nhớ lại 50 năm trước, một điều dĩ nhiên là thế giới không phải như ngày hôm nay, nước Mỹ không phải như ngày hôm nay và người Việt ở Mỹ hay ở khắp các nơi cũng không hẳn là người Việt ngày hôm nay. Trong thời gian ấy, ít nhất hai thế hệ mới đã ra đời. Nhớ lại 50 năm trước, đêm cuối cùng, một phép lạ đã đưa chúng tôi lọt được vào quân cảng Saigon và trèo lên được chiếc chiến hạm cuối cùng đang nằm ụ, bỏ nước ra đi. Những ngày dài chen chúc nhau trong một con tầu chết máy trôi trên biển mãi mới đến được đảo Guam. Những ngày lang bạt, tất tưởi rời trại này qua trại khác, cuối cùng được đưa vào vào đất liền, và tạm trú tại Camp Pendleton trại Thủy Quân Lục Chiến miền Nam Cali. Trại trải dài hàng cây số, với hàng trăm căn lều vải đón nhận hàng trăm ngàn người tị nạn.
Ở xứ Bắc Mỹ này chúng ta không lạ gì các bảng hiệu ở một số cửa hàng “Open 24 hours” nghĩa là mở cửa cả ngày lẫn đêm. Nhưng cũng chưa rõ nghĩa lắm, bởi sẽ có người cắc cớ hỏi “24 hours nhưng có ngày nào nghỉ không”, thế là có ngay các tiệm “24/7” tức là mở cửa 24 giờ một ngày và 7 ngày trong tuần. Vẫn chưa hết, có lần ở Arlington, Texas thăm gia đình, tôi đã thấy một tiệm Walmart rộng lớn bề thế, khách ra vào tấp nập, dĩ nhiên là mở cửa 24 hours, với tấm bảng thật to và hàng chữ đầy kiêu hãnh: “WE NEVER CLOSED”, vậy là khỏi có ai thắc mắc suy nghĩ cho mệt đầu mệt óc! Tháng 8/2021 tôi bay qua Arlington dự đám tang của Ba. Tối hôm đó, khoảng hơn 10 pm, tôi cần một món đồ, nhưng các cửa tiệm khác đều đã đóng cửa, tôi chợt nhớ đến Walmart và nói với anh tôi: - Ôi, may quá, còn tiệm Walmart “never closed”, chúng ta hãy đến đó! Anh cười: - Hồi năm 2020, khi dịch Covid đến cao điểm thì tiệm đó đã phải đóng cửa cuối tuần, còn hàng ngày chỉ mở đến 10 pm,...
Bao nhiêu năm qua, ông Lân vẫn giữ lời nguyền: “Sống để bụng, chết mang theo” về một chuyện tình. Nhưng bước sang tuổi tám mươi, lòng ông day dứt… nếu không nói ra - một mai qua đời - sẽ không có ai biết được nỗi lòng tha thiết của ông về một mối tình thật đẹp nhưng đã kết thúc trong thương cảm - khiến hai kẻ yêu nhau cùng im lặng và dấu kín trong tim một nỗi niềm. Thế là, ông không còn giữ được lời nguyền - ông viết! Ông viết ra nỗi niềm chưa tỏ cùng ai như một cách để trải lòng… Từ lâu, ông nghe nói người ấy đi tu và đã khấn trọn đời - nguyện tận hiến tuổi thanh xuân và cuộc sống của mình để phụng sự Chúa. Bây giờ, người nữ tu ấy đã vào tuổi bảy mươi lăm, đang tu dưỡng trong một dòng tu nào đó ở Hoa Kỳ. Ông không có ý tìm gặp, nhưng nhưng mong tình cờ người nữ tu ấy đọc được truyện ngắn này mà thấy lòng xao xuyến, rồi san sẻ chút lòng kính yêu Thiên Chúa cho mối tình đầu thơ mộng… Thế là ông mãn nguyện.
Thời kỳ còn học trung học ở Việt Nam, qua sách vở tôi đã biết đến cây cầu Golden Gate Bridge – cầu Cổng Vàng - là cây cầu treo dài nhất thế giới nối thành phố San Francisco của tiểu bang California đến quận Marin xuyên qua biển Thái Bình Dương. Cây cầu là một trong những biểu tượng của San Francisco và Hoa Kỳ được quốc tế công nhận là một trong những kỳ quan thế giới hiện đại. Tôi đã ao ước được một lần đặt chân trên cầu này và tự tay chụp được bức ảnh đẹp của nó.
Vừa nhận được từ Báo Việt Báo, thư mời về tham dự lễ phát thưởng ”Viết Về Nước Mỹ” năm thứ 25 (2024-2025) được tổ chức tại Nam Cali vào ngày 30-11-2025, tôi cảm thấy thật vui vì lại có dịp đi Cali để thăm người chị và các cháu, đồng thời gặp lại một số bạn bè trước đây cùng chung lớp ở Trường TH Gia-Long và Trường SP Sài gon. Ngoài việc tham dự lễ phát thưởng VVNM, tôi cũng dự định đi thăm một vài thắng cảnh ở Cali mà trước đây tôi chưa hề biết đến. Tôi và con gái book vé xong và hành lý cũng đã sắp xếp gọn gàng, chỉ chờ đến ngày, mẹ con tôi sẽ làm một cuộc du lịch ngắn nhưng tôi tin chắc rằng trên cả tuyệt vời.
Người Việt Nam chúng ta ai cũng tự hào về phở. Trong gần 200 nước trên thế giới, chỉ có trên mười quốc gia là có những món ăn nổi tiếng ai cũng biết. Người Nhật thì có sushi. Đại Hàn thì có kimchi. Ý Đại Lợi thì có món pizza. Nói đến Việt Nam là cả thế giới biết món phở. Khi người Việt Nam mới qua Mỹ còn dịch phở thành “beef noodle” cho người bản xứ hiểu. Bây giờ thì cứ nói phở là ai cũng biết nó là món gì. Tuy phở cho chúng ta niềm tự hào này, tôi ước gì người Việt Nam mình nâng món ăn dân tộc này lên một tầm cao mới để chúng ta có thể ngẩng đầu cao hơn nữa. Sau mười năm “khoái ăn sang” (sáng ăn khoai) từ năm 1975, tôi điểm tâm bằng phở mỗi ngày từ năm 1985 cho đến khi rời Việt Nam để đi định cư tại Mỹ vào năm 1991. Trong khu Kiến thiết, quận Phú Nhuận, nơi tôi ở, có ba quán phở gần nhau và cả ba quán đều bán phở bò. Tôi cứ xoay tua ăn sáng tại ba quán phở này. Năm 1988, có một quán phở gà mới mở ở quận ba, đối diện với nhà thờ Vườn xoài trên đường Lê Văn Sỹ (Trương Minh Giảng cũ)
Chúng tôi rời San Jose khi sương sớm còn bám trên hàng cây hai bên đường, lá rung nhẹ trong gió như vẫy chào một ngày rong chơi mới. Ở tuổi 74, mỗi chuyến đi trở thành một món quà-không ồn ào, không kế hoạch rườm rà, chỉ là cuộc hẹn với đất trời và với chính những cảm xúc đã từng tưởng bị thời gian làm lắng lại. Mỗi chuyến đi là một dịp tự thưởng, một sự trân quý dành cho thời gian vẫn còn cho phép hai vợ chồng già bước ra khỏi cuộc sống quen thuộc thường ngày. Napa Valley, vùng đất của nho, rượu vang, nắng vàng và triền đồi xanh ngát chờ đón chúng tôi bằng sự nhẹ nhàng ấm áp rất riêng của nó.
Nhạc sĩ Cung Tiến