(Một chuyến đi dài 44 năm từ Biển Đông đến Alaska)
Thủy Lâm Synh sinh quán tại Đức Hải, Quảng Ngãi, Việt Nam. Ông vượt biển tháng Giêng 1978, sau khi tạm trú tại Singapore 3 tháng, định cư tại Chicago, IL. Ông làm chuyên viên cho Eastman Kodak 20 năm. Năm 2000 sáng lập Bán Nguyệt San Chicago Việt Báo và điều hành đến 2015 thì sang lại và về nam Cali nghỉ hưu. Ông tham dự chương trình VVNM từ đầu năm nay. Nhân kỷ niệm 50 năm hành trình người Việt xa xứ, bài viết kỳ này là lời tạ ơn đối với những vị ân nhân và đất nước Hoa Kỳ đã cứu vớt, cưu mang người Việt tị nạn vượt biển tìm tự do vào nửa thập kỷ qua.
***
“Ba giờ sáng, tôi chợt thức dậy. Không ngủ lại được, tôi mở điện thoại, lướt nhanh Facebook. Bỗng hiện ra một tấm hình lạ - một nhóm người đứng chen chúc trên boong tàu, gió thổi tóc bay rối bời. Ở giữa, có anh, dáng gầy, đeo kính. Tôi sững sờ.
Tấm hình ấy, trong đời tôi chưa từng trông thấy.
Tấm hình ấy, trong đời tôi chưa từng trông thấy.
Mai, tháng Ba 2022”
Mùa Tạ Ơn và ký ức 44 năm.
Tháng Mười Một ở Hoa Kỳ là mùa Tạ Ơn. Nam Cali không có lá vàng rơi nhưng mấy hôm nay gió se lạnh, trời mưa dai dẳng, lòng người cũng lan man quay về với những điều tưởng như đã cũ. Đối với gia đình chúng tôi, mùa Tạ Ơn năm nay là một cuộc trở về kỳ diệu, một trùng phùng hi hữu sau bốn mươi bốn năm – giữa một gia đình thuyền nhân Việt Nam và ân nhân đã chở chúng tôi rời quê cha đất tổ; cũng như Tạ Ơn người thuyền trưởng và thủy thủ đoàn tốt bụng đã cứu sống chúng tôi trên biển Đông giữa mùa biển động đầu năm 1978.
Bức ảnh từ bóng tối.
Đêm ấy, khi Mai đánh thức tôi dậy để chỉ tấm hình lạ, tim tôi khẽ chùng xuống. Trên màn hình nhỏ chiếc điện thoại là những khuôn mặt hốc hác, loang lổ nắng gió và mệt mỏi. Giữa đám đông đứng hàng ngang trước chiếc ghe đánh cá mang biển số PK 0132, có tôi, chàng thanh niên đeo kính, gầy guộc, nhìn thẳng về phía trước. Lúc đầu chỉ có một mình tôi được kéo lên tàu bằng thang dây để hỏi chuyện. Sau hơn hai tiếng trên boong, radio gọi về Mỹ liên tục, nhưng lúc ấy là ban trưa bên Việt Nam – ban đêm bên Mỹ – không ai trực máy. Mãi khi liên lạc được với bộ chỉ huy, họ mới cho hạ cần cẩu kéo mọi người lên tàu. Theo vĩ độ họ báo, đó là trên hải phận quốc tế, ngang Phan Thiết. Vậy là ghe chúng tôi càng xa bờ thì càng bị gió bấc đẩy về nam.
Sau khi đưa tất cả mọi người lên tàu, thủy thủ cho cột dây vào đà ngang gần mũi ghe để kéo ghe chúng tôi theo. Nửa đêm, một thủy thủ gõ cửa cabin bảo: “Chiếc ghe của mầy đứt dây rồi, thuyền trưởng ra lệnh quay trở lại kiếm.” Thật ra dây không đứt, nhưng chỗ cột bị bể vì tàu kéo nhanh, ghe gỗ chịu không nổi. Sau khi tìm được, họ bảo chúng tôi leo thang dây xuống tìm cách vớt ghe lên. Anh Thanh – chủ ghe và cũng là tài công – cùng em là anh Cẩn loay hoay choàng dây cáp dưới mê ghe, một sợi trước, một sợi sau để cần cẩu kéo lên boong. Anh Cẩn bị suyễn nặng, chưa từng lên xuống thang dây nên anh phải ráng đến kiệt sức. Khi lên đến boong anh kiệt sức, nằm thở hổn hển.
Ngày rời bến Cầu Đá, Nha Trang.
Đêm 15 tháng Giêng 1978, hai mươi bảy người rời bến Cầu Đá, Nha Trang, trên chiếc ghe chài dài mười ba thước. Biển Đông lạnh lẽo, trời tối như mực. Ba ngày sau, sóng gió nổi lên. Chúng tôi lềnh bềnh giữa biển khơi, đàn bà và trẻ em ói mửa liên tiếp, niềm tin cạn kiệt, vì chẳng biết đi về đâu. Nỗi tuyệt vọng, sợ hãi hằn lên gương mặt mỗi người.
Tại hải phận quốc tế, nhiều tàu buôn, tàu dầu, tàu chở hàng qua lại rất đông. Đặc biệt ban đêm, đèn trên tàu sáng như một thành phố nổi. Tàu qua lại thì nhiều nhưng không ai chịu dừng lại cứu; dù chúng tôi trương tấm ra trắng có chữ SOS.
Trưa hôm ấy, bỗng giữa trùng khơi, từ hướng bắc, một bóng khổng lồ từ từ xuất hiện – siêu tàu chở dầu J. Paul Getty. Đi ngang chúng tôi, một thủy thủ dùng loa phóng thanh hỏi: “Các người muốn gì?” Tôi lấy tay làm loa trả lời: “Chúng tôi là người Việt tị nạn, xin được cứu giúp.” Đàn bà và trẻ em đều kiệt sức, máy trục trặc cứ thỉnh thoảng bị tắt, nước vào ghe phải tát ra liên tục.
Khi nghe ghe sắp chìm, họ dừng tàu, thả thang dây. Tôi, người biết chút tiếng Anh, được đưa lên trước. Họ đưa tôi vào gặp một người. Được biết đó là thuyển trưởng Salefi, người Anh, cũng là người ra quyết định cứu chúng tôi sau khi đã liên lạc được với các chức sắc như tòa đại sứ Mỹ cũng như sở Di Trú Singapore, Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ tại Singapore… Công ty J. Paul Getty Oil phải đặt cọc 27.000 USD cho chính phủ Singapore, với sự cam kết của ông Michael Harpold, viên chức Di Trú Mỹ rằng trong vòng ba tháng, nhóm thuyền nhân này sẽ được định cư tại Mỹ. Lúc bấy giờ Hoa Kỳ vẫn chưa có chính sách chính thức nhận thuyền nhân.
Quyết định thay đổi lịch sử.
Khi tàu đến cảng Singapore, các viên chức Di trú Singapore, đại diện Liên Hiệp Quốc, Đại sứ Mỹ Norris và ông Harpold ra tận nơi đón. Không có thẩm quyền, nhưng họ vẫn cấp cho chúng tôi “Humanitarian Parole”. Ông Harpold nói:
“Tôi hiểu, nếu mình không làm gì, sẽ không còn con tàu nào dám cứu thuyền nhân nữa.”
“Tôi hiểu, nếu mình không làm gì, sẽ không còn con tàu nào dám cứu thuyền nhân nữa.”
Sau đó, Washington D.C. phê chuẩn hành động “vượt thẩm quyền” này. Một bức điện khẩn gửi đi toàn cầu: “Tất cả viên chức Di trú Mỹ có thể cấp Humanitarian Parole cho thuyền nhân Việt Nam trong tình huống khẩn cấp.” Từ đó, cánh cửa nhân đạo nước Mỹ mở ra. Trong thập niên tiếp theo, hơn 1,5 triệu người Việt, Lào, Campuchia được định cư tại Mỹ. Ngày St. Patrick’s Day 1980, Tổng thống Carter ký Đạo luật Tị nạn, chính thức hóa tinh thần ấy.
Chúng tôi – nhóm đầu tiên – được đưa về YMCA số 15 Katong, Singapore. Rồi ba tháng sau đến Chicago, do Hội Do Thái bảo trợ, bắt đầu lại với hai bàn tay trắng và một ơn nghĩa không sao tả hết.
Cuộc hội ngộ định mệnh ở Alaska.
Năm 2021, các con tôi muốn tổ chức mừng sinh nhật thứ bảy lăm của tôi. Chuyến hành trình bằng du thuyền lên miền cực Bắc. Chuyến đi đã được sắp xếp vào ngày 25 tháng Sáu, 2022. Một sự trùng hợp lạ kỳ. Sau khi Mai – người vợ sau của tôi thấy tấm hình lạ do Amazon quảng cáo quyển sách “The People We Wanted to Forget”. Ngày hôm sau, tôi liên lạc được với tác giả Michael Harpold – cũng chính là viên sĩ quan Di Trú, hiện đã nghỉ hưu và sinh sống tại thành phố Ketchikan, cảng đầu tiên du thuyền Navigator of the Seas ghé đến.
Tại đây vợ chồng ông Harpold chờ sẵn với một chiếc xe van 7 chỗ ngồi và mấy chiếc sedan chở hết chúng tôi lên một nhà hàng trên đồi - Cape Fox Lodge Restaurant. Gia đình chúng tôi rất vui mừng được gặp lại ông Harpold và gia đình ông ta sau 44 năm xa cách. Ông Harpold cũng đã mời phóng viên Ketchikan Daily News, đài KRBD Radio. Chúng tôi – con cháu, dâu rể – và gia đình ông Harpold ngồi quanh hai bàn dài trò chuyện.
Tôi siết tay ông Harpold – bàn tay từng ký tờ giấy “không có thật” để cứu 27 người.
“Cảm ơn ông,” tôi nói, giọng nghẹn. “Không có ông, không có nước Mỹ, chúng tôi đã chẳng còn ngồi đây.”
Con trai lớn Alex nói:“Cha mẹ tôi đã chịu đói, chịu sợ hãi để chúng tôi có ngày hôm nay. Món quà ông Harpold trao – thật vô giá.” Sean, con út, trầm ngâm:
“Tôi sinh ra đủ đầy, chẳng biết đói là gì. Nhưng hôm nay được gặp người đã giúp cha mẹ – thật như một phép màu.”
“Tôi sinh ra đủ đầy, chẳng biết đói là gì. Nhưng hôm nay được gặp người đã giúp cha mẹ – thật như một phép màu.”
Bốn mươi bốn năm, một chuyến đi từ Biển Đông đến cực Bắc. Nhưng lòng nhân ái vẫn là ngọn đèn không bao giờ tắt, thắp lên từ thế hệ đầu đến các thế hệ sau.
Lời tri ân.
Để ghi nhớ ơn ấy, tôi đặt tên con trai áp út của tôi là Paul Getty – để đời đời con cháu còn nhớ đến con tàu J. Paul Getty, ông thuyền trưởng Salefi, thuyền phó John Batter, thủy thủ đoàn người Thụy Điển, và ông Michael Harpold – những người đã dừng con tàu hàng trăm nghìn tấn giữa biển khơi chỉ để cứu 27 sinh mạng.
Trong mùa Tạ Ơn năm nay, khi những cơn mưa kéo dài tại vùng nam Cali, lòng tôi chùng xuống, nhớ những thiên tai, bão lũ tại quê nhà, nơi ấy bà con, họ hàng tôi đang chịu cảnh màn trời chiếu đất. Tôi chỉ muốn thì thầm một câu rất nhỏ mà chứa trọn cả một đời: Cám ơn chiếc ghe chài mang biển số PK 0132, cám ơn hương hồn hai bác - ba mẹ anh Thanh. Cám ơn anh Thanh – người tài công can đảm, gan dạ, bao dung đã đi tìm tự do, anh để lại vợ con, cha mẹ và các em (sau nầy hai bác, vợ con anh Thanh, vợ con anh Cẩn cùng những em gái vượt biên thành công).
Cảm ơn ông, Michael Harpold. Cảm ơn nước Mỹ – miền đất đã dang tay cứu vớt những con người trôi dạt giữa đại dương.
Thủy Lâm Synh
Nov. 2025






Trong Ủy Hội Kiểm Soát Ðình Chiến UHKSÐC (không phải LHQS 4 bên) thi hành HÐ Paris 1973 phái đoàn 2 nuớc Ba Lan và Hung bênh vực cho phe CS và 2 nuớc Indonesia, Iran bênh vực cho VNCH. Canada ban đầu tham gia UHKSÐC nhưng sau rút lui vì không chặn đuợc CS vi phạm nên Iran vào thay thế Canada.