Hôm nay,  

Cuộc Hội Ngộ Hi Hữu

13/03/202600:00:00(Xem: 1162)
Tam anh chua he thay
Tấm hình của tác giả Thủy Lâm Synh

(Một chuyến đi dài 44 năm từ Biển Đông đến Alaska)


Thủy Lâm Synh sinh quán tại Đức Hải, Quảng Ngãi, Việt Nam. Ông vượt biển tháng Giêng 1978, sau khi tạm trú tại Singapore 3 tháng, định cư tại Chicago, IL. Ông làm chuyên viên cho Eastman Kodak 20 năm. Năm 2000 sáng lập Bán Nguyệt San Chicago Việt Báo và điều hành đến 2015 thì sang lại và về nam Cali nghỉ hưu. Ông tham dự chương trình VVNM từ đầu năm nay.
Nhân kỷ niệm 50 năm hành trình người Việt xa xứ, bài viết kỳ này là lời tạ ơn đối với những vị ân nhân và đất nước Hoa Kỳ đã cứu vớt, cưu mang người Việt tị nạn vượt biển tìm tự do vào nửa thập kỷ qua.
 
***
 
“Ba giờ sáng, tôi chợt thức dậy. Không ngủ lại được, tôi mở điện thoại, lướt nhanh Facebook. Bỗng hiện ra một tấm hình lạ - một nhóm người đứng chen chúc trên boong tàu, gió thổi tóc bay rối bời. Ở giữa, có anh, dáng gầy, đeo kính. Tôi sững sờ.
Tấm hình ấy, trong đời tôi chưa từng trông thấy.
Mai, tháng Ba 2022”

Mùa Tạ Ơn và ký ức 44 năm.

Tháng Mười Một ở Hoa Kỳ là mùa Tạ Ơn. Nam Cali không có lá vàng rơi nhưng mấy hôm nay gió se lạnh, trời mưa dai dẳng, lòng người cũng lan man quay về với những điều tưởng như đã cũ. Đối với gia đình chúng tôi, mùa Tạ Ơn năm nay là một cuộc trở về kỳ diệu, một trùng phùng hi hữu sau bốn mươi bốn năm – giữa một gia đình thuyền nhân Việt Nam và ân nhân đã chở chúng tôi rời quê cha đất tổ; cũng như Tạ Ơn người thuyền trưởng và thủy thủ đoàn tốt bụng đã cứu sống chúng tôi trên biển Đông giữa mùa biển động đầu năm 1978.
 
Bức ảnh từ bóng tối.

Đêm ấy, khi Mai đánh thức tôi dậy để chỉ tấm hình lạ, tim tôi khẽ chùng xuống. Trên màn hình nhỏ chiếc điện thoại là những khuôn mặt hốc hác, loang lổ nắng gió và mệt mỏi. Giữa đám đông đứng hàng ngang trước chiếc ghe đánh cá mang biển số PK 0132, có tôi, chàng thanh niên đeo kính, gầy guộc, nhìn thẳng về phía trước. Lúc đầu chỉ có một mình tôi được kéo lên tàu bằng thang dây để hỏi chuyện. Sau hơn hai tiếng trên boong, radio gọi về Mỹ liên tục, nhưng lúc ấy là ban trưa bên Việt Nam – ban đêm bên Mỹ – không ai trực máy. Mãi khi liên lạc được với bộ chỉ huy, họ mới cho hạ cần cẩu kéo mọi người lên tàu. Theo vĩ độ họ báo, đó là trên hải phận quốc tế, ngang Phan Thiết. Vậy là ghe chúng tôi càng xa bờ thì càng bị gió bấc đẩy về nam. 

Sau khi đưa tất cả mọi người lên tàu, thủy thủ cho cột dây vào đà ngang gần mũi ghe để kéo ghe chúng tôi theo. Nửa đêm, một thủy thủ gõ cửa cabin bảo: “Chiếc ghe của mầy đứt dây rồi, thuyền trưởng ra lệnh quay trở lại kiếm.” Thật ra dây không đứt, nhưng chỗ cột bị bể vì tàu kéo nhanh, ghe gỗ chịu không nổi. Sau khi tìm được, họ bảo chúng tôi leo thang dây xuống tìm cách vớt ghe lên. Anh Thanh – chủ ghe và cũng là tài công – cùng em là anh Cẩn loay hoay choàng dây cáp dưới mê ghe, một sợi trước, một sợi sau để cần cẩu kéo lên boong. Anh Cẩn bị suyễn nặng, chưa từng lên xuống thang dây nên anh phải ráng đến kiệt sức. Khi lên đến boong anh kiệt sức, nằm thở hổn hển.
 
Ngày rời bến Cầu Đá, Nha Trang.

Đêm 15 tháng Giêng 1978, hai mươi bảy người rời bến Cầu Đá, Nha Trang, trên chiếc ghe chài dài mười ba thước. Biển Đông lạnh lẽo, trời tối như mực. Ba ngày sau, sóng gió nổi lên. Chúng tôi lềnh bềnh giữa biển khơi, đàn bà và trẻ em ói mửa liên tiếp, niềm tin cạn kiệt, vì chẳng biết đi về đâu. Nỗi tuyệt vọng, sợ hãi hằn lên gương mặt mỗi người.

Tại hải phận quốc tế, nhiều tàu buôn, tàu dầu, tàu chở hàng qua lại rất đông. Đặc biệt ban đêm, đèn trên tàu sáng như một thành phố nổi. Tàu qua lại thì nhiều nhưng không ai chịu dừng lại cứu; dù chúng tôi trương tấm ra trắng có chữ SOS.

Trưa hôm ấy, bỗng giữa trùng khơi, từ hướng bắc, một bóng khổng lồ từ từ xuất hiện – siêu tàu chở dầu J. Paul Getty. Đi ngang chúng tôi, một thủy thủ dùng loa phóng thanh hỏi: “Các người muốn gì?” Tôi lấy tay làm loa trả lời: “Chúng tôi là người Việt tị nạn, xin được cứu giúp.” Đàn bà và trẻ em đều kiệt sức, máy trục trặc cứ thỉnh thoảng bị tắt, nước vào ghe phải tát ra liên tục.

Khi nghe ghe sắp chìm, họ dừng tàu, thả thang dây. Tôi, người biết chút tiếng Anh, được đưa lên trước. Họ đưa tôi vào gặp một người. Được biết đó là thuyển trưởng Salefi, người Anh, cũng là người ra quyết định cứu chúng tôi sau khi đã liên lạc được với các chức sắc như tòa đại sứ Mỹ cũng như sở Di Trú Singapore, Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ tại Singapore… Công ty J. Paul Getty Oil phải đặt cọc 27.000 USD cho chính phủ Singapore, với sự cam kết của ông Michael Harpold, viên chức Di Trú Mỹ rằng trong vòng ba tháng, nhóm thuyền nhân này sẽ được định cư tại Mỹ. Lúc bấy giờ Hoa Kỳ vẫn chưa có chính sách chính thức nhận thuyền nhân.

Quyết định thay đổi lịch sử.

Khi tàu đến cảng Singapore, các viên chức Di trú Singapore, đại diện Liên Hiệp Quốc, Đại sứ Mỹ Norris và ông Harpold ra tận nơi đón. Không có thẩm quyền, nhưng họ vẫn cấp cho chúng tôi “Humanitarian Parole”. Ông Harpold nói:

“Tôi hiểu, nếu mình không làm gì, sẽ không còn con tàu nào dám cứu thuyền nhân nữa.”

Sau đó, Washington D.C. phê chuẩn hành động “vượt thẩm quyền” này. Một bức điện khẩn gửi đi toàn cầu: “Tất cả viên chức Di trú Mỹ có thể cấp Humanitarian Parole cho thuyền nhân Việt Nam trong tình huống khẩn cấp.” Từ đó, cánh cửa nhân đạo nước Mỹ mở ra. Trong thập niên tiếp theo, hơn 1,5 triệu người Việt, Lào, Campuchia được định cư tại Mỹ. Ngày St. Patrick’s Day 1980, Tổng thống Carter ký Đạo luật Tị nạn, chính thức hóa tinh thần ấy.

Chúng tôi – nhóm đầu tiên – được đưa về YMCA số 15 Katong, Singapore. Rồi ba tháng sau đến Chicago, do Hội Do Thái bảo trợ, bắt đầu lại với hai bàn tay trắng và một ơn nghĩa không sao tả hết.
 
Cuộc hội ngộ định mệnh ở Alaska.

Năm 2021, các con tôi muốn tổ chức mừng sinh nhật thứ bảy lăm của tôi. Chuyến hành trình bằng du thuyền lên miền cực Bắc. Chuyến đi đã được sắp xếp vào ngày 25 tháng Sáu, 2022. Một sự trùng hợp lạ kỳ. Sau khi Mai – người vợ sau của tôi thấy tấm hình lạ do Amazon quảng cáo quyển sách “The People We Wanted to Forget”. Ngày hôm sau, tôi liên lạc được với tác giả Michael Harpold – cũng chính là viên sĩ quan Di Trú, hiện đã nghỉ hưu và sinh sống tại thành phố Ketchikan, cảng đầu tiên du thuyền Navigator of the Seas ghé đến.

Tại đây vợ chồng ông Harpold chờ sẵn với một chiếc xe van 7 chỗ ngồi và mấy chiếc sedan chở hết chúng tôi lên một nhà hàng trên đồi - Cape Fox Lodge Restaurant. Gia đình chúng tôi rất vui mừng được gặp lại ông Harpold và gia đình ông ta sau 44 năm xa cách. Ông Harpold cũng đã mời phóng viên Ketchikan Daily News, đài KRBD Radio. Chúng tôi – con cháu, dâu rể – và gia đình ông Harpold ngồi quanh hai bàn dài trò chuyện.

Tôi siết tay ông Harpold – bàn tay từng ký tờ giấy “không có thật” để cứu 27 người.
“Cảm ơn ông,” tôi nói, giọng nghẹn. “Không có ông, không có nước Mỹ, chúng tôi đã chẳng còn ngồi đây.”
Con trai lớn Alex nói:“Cha mẹ tôi đã chịu đói, chịu sợ hãi để chúng tôi có ngày hôm nay. Món quà ông Harpold trao – thật vô giá.” Sean, con út, trầm ngâm:
“Tôi sinh ra đủ đầy, chẳng biết đói là gì. Nhưng hôm nay được gặp người đã giúp cha mẹ – thật như một phép màu.”
Bốn mươi bốn năm, một chuyến đi từ Biển Đông đến cực Bắc. Nhưng lòng nhân ái vẫn là ngọn đèn không bao giờ tắt, thắp lên từ thế hệ đầu đến các thế hệ sau.
 
Lời tri ân.

Để ghi nhớ ơn ấy, tôi đặt tên con trai áp út của tôi là Paul Getty – để đời đời con cháu còn nhớ đến con tàu J. Paul Getty, ông thuyền trưởng Salefi, thuyền phó John Batter, thủy thủ đoàn người Thụy Điển, và ông Michael Harpold – những người đã dừng con tàu hàng trăm nghìn tấn giữa biển khơi chỉ để cứu 27 sinh mạng.

Trong mùa Tạ Ơn năm nay, khi những cơn mưa kéo dài tại vùng nam Cali, lòng tôi chùng xuống, nhớ những thiên tai, bão lũ tại quê nhà, nơi ấy bà con, họ hàng tôi đang chịu cảnh màn trời chiếu đất. Tôi chỉ muốn thì thầm một câu rất nhỏ mà chứa trọn cả một đời: Cám ơn chiếc ghe chài mang biển số PK 0132, cám ơn hương hồn hai bác - ba mẹ anh Thanh. Cám ơn anh Thanh – người tài công can đảm, gan dạ, bao dung đã đi tìm tự do, anh để lại vợ con, cha mẹ và các em (sau nầy hai bác, vợ con anh Thanh, vợ con anh Cẩn cùng những em gái vượt biên thành công).

Cảm ơn ông, Michael Harpold. Cảm ơn nước Mỹ – miền đất đã dang tay cứu vớt những con người trôi dạt giữa đại dương.
 
Thủy Lâm Synh
Nov. 2025
 

Ý kiến bạn đọc
17/03/202613:21:17
Khách
Báo NV chống Trump nhưng không đăng tin chỉ trích Do Thái vì DT bỏ tiền quảng cáo online cho DT. Chẳng hạn khi Ðức Giáo Hoàng lên án chiến tranh Gaza va Trung Dông hay khi đàn bà trẻ em truờng học nhân viên từ thiện bị máy bay tấn công ở Trung Ðông thì báo Nguời Việt lờ đi.
Trong Ủy Hội Kiểm Soát Ðình Chiến UHKSÐC (không phải LHQS 4 bên) thi hành HÐ Paris 1973 phái đoàn 2 nuớc Ba Lan và Hung bênh vực cho phe CS và 2 nuớc Indonesia, Iran bênh vực cho VNCH. Canada ban đầu tham gia UHKSÐC nhưng sau rút lui vì không chặn đuợc CS vi phạm nên Iran vào thay thế Canada.
16/03/202610:48:10
Khách
Thật ra thì các cơ quan truyền thông lớn của VN như Việt báo, Người Việt, SBTN, Little Saigon TV, radio đều loan tin trung thực nhưng người Việt bị các kênh youtube tự biên tự diễn nhồi so. cộng thêm lười suy luận và tìm hiểu cho nên cứ tôn thờ lãnh tự Mỹ và qua đó ủng hộ Do thái đánh Ả Rập
15/03/202613:50:59
Khách
Thảm cảnh thuyền nhân và tù cải tạo là đại họa cho dân Nam VN, nhưng kẻ đứng đàng sau hạ độc thủ chưa đuợc nguời VN tị nạn nhận diện. Sau năm 2000 các tài liệu đuợc giải mật và TS Nguyễn Tiến Hưng, LM Cao Văn Luận, GS Nguyễn N Huy, GS Stephen Young viết sách báo tố cáo thủ đoạn tàn độc của Do Thái áp lực Mỹ bỏ rơi VNCH để Mỹ chỉ lo cho Do Thái mà thôi. Thành ra những tai uơng của thuyền nhân VN, tù cải tạo, nguời bị đưa đi kinh tế mới là do nguời Do Thái gây ra. Cộng Sản là caí máy chém nhưng đẩy quân dân miền Nam vào cái máy chém là Do Thái và Mỹ. Sau 1975, Liên hiệp Quân Sự 4 Bên có 2 nuớc Ba Lan và Hung đại diện cho phe Cộng Sản trong khi đó 2 nuớc Hồi Giáo Indonesia và Iran đại diện cho quyền lợi VNCH. Sau khi Mỹ cắt giảm viện trợ cho VNCH thì quốc vuơng A Rập Saudis muốn giúp VNCH thay Mỹ viện trợ. Nguời Việt Nam tị nạn lấy oán trả ơn thù ghét dân Hồi giáo bênh vực cho Do Thái. Ða số dân tị nạn vui mừng khi thấy Mỹ và Do Thái tiêu diệt Iran và kháng chiến quân Hồi Giáo. Thiếu trí tuệ không nhận ra ai thật là kẻ thù. Chỉ có Việt Báo là tờ báo duy nhất trong cộng đồng VN tị nạn loan tin trung thực không bị tiền bạc mua chuộc.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 107,157
Tôi từng được làm quen với ngành điện toán từ thuở người ta còn dùng những chiếc máy lớn bằng cả căn phòng, đục lỗ trên những tấm bìa cứng để đưa chương trình được viết bởi những kỹ sư lập trình vào máy mà hãng IBM từng xây dựng cho công ty điện lực tại Saigon. Hơn ba mươi năm làm kỹ sư, tôi đã chứng kiến bao cuộc đổi thay: từ thời mainframe (máy tính chủ), qua personal computer (máy điện toán cá nhân), đến Internet (mạng điện toán toàn cầu), rồi smartphone (điện thoại thông minh). Nhưng có lẽ chưa bao giờ tôi thấy một làn sóng nào mạnh mẽ, nhanh chóng và sâu rộng như làn sóng Trí Tuệ Nhân Tạo - Artificial Intelligence, thường gọi tắt là AI.
Tôi bắt đầu để ý đến AI không phải bằng một bài báo khoa học hay một buổi hội thảo hoành tráng. Mọi thứ đến rất tình cờ. Một tối, tôi cần viết bản tóm tắt công việc, nhưng đầu óc rối tung. Người bạn ngồi cạnh bảo: “Thử hỏi AI xem, biết đâu giúp được.” Tôi bán tín bán nghi, nhưng rồi vẫn gõ vài dòng vào một công cụ lạ lẫm. Kết quả trả về gọn gàng, súc tích và khá logic. Đó là lần đầu tôi cảm thấy AI giống như một người bạn biết trò chuyện, chứ không chỉ là một cỗ máy lạnh lùng.
Bức chân dung đen trắng không màu mè hoa mỹ của người phụ nữ, trong ngàn vạn phụ nữ vợ của lính, thời đất nước ngã nghiêng, họ đã chiến đấu, không súng, không đạn, không huy chương, không khen thưởng, tất cả cho chồng, lót đường cho con bước lên, để rồi, kết thúc như một vở hài kịch. Được gặp lại chị, tôi vui mừng ôm chặt vai, vào sáng thứ Bảy, tại tiền đường nhà thờ các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam, thuộc Tổng giáo phận Seattle, trước thánh lễ Hôn Phối của người cháu gái gọi tôi bằng Dì, còn Chị, bên họ nhà trai. Tôi hỏi: - Chị lên Oregon mấy ngày rồi, anh đâu hả chị? Để em tới chào anh một tiếng. Chị trả lời: - Ờ! Ờ! Anh không có đây, vào nhà thờ đã....
Nhớ lại 50 năm trước, một điều dĩ nhiên là thế giới không phải như ngày hôm nay, nước Mỹ không phải như ngày hôm nay và người Việt ở Mỹ hay ở khắp các nơi cũng không hẳn là người Việt ngày hôm nay. Trong thời gian ấy, ít nhất hai thế hệ mới đã ra đời. Nhớ lại 50 năm trước, đêm cuối cùng, một phép lạ đã đưa chúng tôi lọt được vào quân cảng Saigon và trèo lên được chiếc chiến hạm cuối cùng đang nằm ụ, bỏ nước ra đi. Những ngày dài chen chúc nhau trong một con tầu chết máy trôi trên biển mãi mới đến được đảo Guam. Những ngày lang bạt, tất tưởi rời trại này qua trại khác, cuối cùng được đưa vào vào đất liền, và tạm trú tại Camp Pendleton trại Thủy Quân Lục Chiến miền Nam Cali. Trại trải dài hàng cây số, với hàng trăm căn lều vải đón nhận hàng trăm ngàn người tị nạn.
Ở xứ Bắc Mỹ này chúng ta không lạ gì các bảng hiệu ở một số cửa hàng “Open 24 hours” nghĩa là mở cửa cả ngày lẫn đêm. Nhưng cũng chưa rõ nghĩa lắm, bởi sẽ có người cắc cớ hỏi “24 hours nhưng có ngày nào nghỉ không”, thế là có ngay các tiệm “24/7” tức là mở cửa 24 giờ một ngày và 7 ngày trong tuần. Vẫn chưa hết, có lần ở Arlington, Texas thăm gia đình, tôi đã thấy một tiệm Walmart rộng lớn bề thế, khách ra vào tấp nập, dĩ nhiên là mở cửa 24 hours, với tấm bảng thật to và hàng chữ đầy kiêu hãnh: “WE NEVER CLOSED”, vậy là khỏi có ai thắc mắc suy nghĩ cho mệt đầu mệt óc! Tháng 8/2021 tôi bay qua Arlington dự đám tang của Ba. Tối hôm đó, khoảng hơn 10 pm, tôi cần một món đồ, nhưng các cửa tiệm khác đều đã đóng cửa, tôi chợt nhớ đến Walmart và nói với anh tôi: - Ôi, may quá, còn tiệm Walmart “never closed”, chúng ta hãy đến đó! Anh cười: - Hồi năm 2020, khi dịch Covid đến cao điểm thì tiệm đó đã phải đóng cửa cuối tuần, còn hàng ngày chỉ mở đến 10 pm,...
Bao nhiêu năm qua, ông Lân vẫn giữ lời nguyền: “Sống để bụng, chết mang theo” về một chuyện tình. Nhưng bước sang tuổi tám mươi, lòng ông day dứt… nếu không nói ra - một mai qua đời - sẽ không có ai biết được nỗi lòng tha thiết của ông về một mối tình thật đẹp nhưng đã kết thúc trong thương cảm - khiến hai kẻ yêu nhau cùng im lặng và dấu kín trong tim một nỗi niềm. Thế là, ông không còn giữ được lời nguyền - ông viết! Ông viết ra nỗi niềm chưa tỏ cùng ai như một cách để trải lòng… Từ lâu, ông nghe nói người ấy đi tu và đã khấn trọn đời - nguyện tận hiến tuổi thanh xuân và cuộc sống của mình để phụng sự Chúa. Bây giờ, người nữ tu ấy đã vào tuổi bảy mươi lăm, đang tu dưỡng trong một dòng tu nào đó ở Hoa Kỳ. Ông không có ý tìm gặp, nhưng nhưng mong tình cờ người nữ tu ấy đọc được truyện ngắn này mà thấy lòng xao xuyến, rồi san sẻ chút lòng kính yêu Thiên Chúa cho mối tình đầu thơ mộng… Thế là ông mãn nguyện.
Thời kỳ còn học trung học ở Việt Nam, qua sách vở tôi đã biết đến cây cầu Golden Gate Bridge – cầu Cổng Vàng - là cây cầu treo dài nhất thế giới nối thành phố San Francisco của tiểu bang California đến quận Marin xuyên qua biển Thái Bình Dương. Cây cầu là một trong những biểu tượng của San Francisco và Hoa Kỳ được quốc tế công nhận là một trong những kỳ quan thế giới hiện đại. Tôi đã ao ước được một lần đặt chân trên cầu này và tự tay chụp được bức ảnh đẹp của nó.
Vừa nhận được từ Báo Việt Báo, thư mời về tham dự lễ phát thưởng ”Viết Về Nước Mỹ” năm thứ 25 (2024-2025) được tổ chức tại Nam Cali vào ngày 30-11-2025, tôi cảm thấy thật vui vì lại có dịp đi Cali để thăm người chị và các cháu, đồng thời gặp lại một số bạn bè trước đây cùng chung lớp ở Trường TH Gia-Long và Trường SP Sài gon. Ngoài việc tham dự lễ phát thưởng VVNM, tôi cũng dự định đi thăm một vài thắng cảnh ở Cali mà trước đây tôi chưa hề biết đến. Tôi và con gái book vé xong và hành lý cũng đã sắp xếp gọn gàng, chỉ chờ đến ngày, mẹ con tôi sẽ làm một cuộc du lịch ngắn nhưng tôi tin chắc rằng trên cả tuyệt vời.
Người Việt Nam chúng ta ai cũng tự hào về phở. Trong gần 200 nước trên thế giới, chỉ có trên mười quốc gia là có những món ăn nổi tiếng ai cũng biết. Người Nhật thì có sushi. Đại Hàn thì có kimchi. Ý Đại Lợi thì có món pizza. Nói đến Việt Nam là cả thế giới biết món phở. Khi người Việt Nam mới qua Mỹ còn dịch phở thành “beef noodle” cho người bản xứ hiểu. Bây giờ thì cứ nói phở là ai cũng biết nó là món gì. Tuy phở cho chúng ta niềm tự hào này, tôi ước gì người Việt Nam mình nâng món ăn dân tộc này lên một tầm cao mới để chúng ta có thể ngẩng đầu cao hơn nữa. Sau mười năm “khoái ăn sang” (sáng ăn khoai) từ năm 1975, tôi điểm tâm bằng phở mỗi ngày từ năm 1985 cho đến khi rời Việt Nam để đi định cư tại Mỹ vào năm 1991. Trong khu Kiến thiết, quận Phú Nhuận, nơi tôi ở, có ba quán phở gần nhau và cả ba quán đều bán phở bò. Tôi cứ xoay tua ăn sáng tại ba quán phở này. Năm 1988, có một quán phở gà mới mở ở quận ba, đối diện với nhà thờ Vườn xoài trên đường Lê Văn Sỹ (Trương Minh Giảng cũ)
Chúng tôi rời San Jose khi sương sớm còn bám trên hàng cây hai bên đường, lá rung nhẹ trong gió như vẫy chào một ngày rong chơi mới. Ở tuổi 74, mỗi chuyến đi trở thành một món quà-không ồn ào, không kế hoạch rườm rà, chỉ là cuộc hẹn với đất trời và với chính những cảm xúc đã từng tưởng bị thời gian làm lắng lại. Mỗi chuyến đi là một dịp tự thưởng, một sự trân quý dành cho thời gian vẫn còn cho phép hai vợ chồng già bước ra khỏi cuộc sống quen thuộc thường ngày. Napa Valley, vùng đất của nho, rượu vang, nắng vàng và triền đồi xanh ngát chờ đón chúng tôi bằng sự nhẹ nhàng ấm áp rất riêng của nó.
Nhạc sĩ Cung Tiến