Trương Hữu Hiền, sinh năm 1958, quê quán Quảng Nam. Theo học bậc tiểu học và trung học tại Đà Nẵng, đại học tại Sài Gòn. Năm 1980, vượt biển và được tàu cứu vớt đưa đến trại tị nạn Okinawa, Nhật Bản. Từ 1983 đến 2000 sống ở Tokyo. Năm 2000 cùng gia đình chuyển sang sống ở Boston, bang Massachusetts (Hoa Kỳ). Hiện làm việc tại trung tâm phục hồi chức năng cho người bị chấn thương não. Tác giả mới tham dự chương trình VVNM từ tháng 12/2025. Bài viết kỳ này là lời tưởng nhớ về một vị linh mục đáng kính đã từ trần và vài suy ngẫm về cuộc đời ngắn ngủi, phù du của con người.
***
Houston, một buổi sáng Chủ nhật. Quý đến đón vợ chồng tôi từ rất sớm. Anh nói muốn đưa chúng tôi đi thăm mộ một người quen từng ở cùng trại tị nạn ngày trước. Trên đường đi, anh ghé qua khu Bellaire và bảo sẽ đãi chúng tôi bữa sáng với món cháo vịt Thanh Đa vốn nổi tiếng ở đây.
Thú thật, tôi chưa từng thấy một tô cháo vịt nào “hào sảng” đến thế. Tô cháo lớn bốc khói nghi ngút được dọn ra trước mặt, bên cạnh là một đĩa thịt vịt đầy ắp, nhìn thôi đã thấy no mắt. Tôi múc một muỗng cháo, đưa lên miệng, rồi gắp một miếng thịt vịt béo ngậy chấm vào chén nước mắm gừng pha chút chanh. Một chữ “ngon” thì thật không đủ để diễn tả cái mùi vị tiềm tàng trong ký ức tưởng chừng đã đánh mất. Cám ơn Quý thật nhiều.
Gia đình bên vợ tôi quen Quý từ năm 1979, khi cùng vượt biển trên chuyến tàu rời Cam Ranh. Sau khi được một tàu chở dầu của Pháp cứu vớt, mọi người được đưa vào trại tị nạn Okinawa ở Nhật Bản. Quý rời trại khá sớm vì có thân nhân ở Mỹ bảo lãnh, còn gia đình vợ tôi thì quyết định ở lại Nhật để định cư. Từ đó, hai bên dần mất liên lạc.
Mãi đến vài năm trước, trong một lần trò chuyện với cô cháu dâu, vợ tôi tình cờ phát hiện Quý lại có họ hàng gần với cô ấy. Nhờ mối dây bất ngờ ấy mà chúng tôi tìm lại được nhau sau bao năm thất lạc. Từ đó, thỉnh thoảng vợ chồng tôi gọi điện cho Quý, và câu chuyện thường quay về những kỷ niệm xa xưa thời ở trại tị nạn.
Trong những lần nói chuyện, Quý hay nhắc đến anh Lương, một chủng sinh của Đại chủng viện Sao Biển Nha Trang, cũng đi chung chuyến ghe năm ấy. Ở trại Okinawa, phòng của anh Lương và Quý ở gần phòng gia đình vợ tôi nên mọi người khá thân thiết. Sau khi sang định cư tại Mỹ, anh Lương tiếp tục con đường tu học và sau này trở thành một linh mục Công giáo.
Khi biết vợ chồng tôi chuyển sang Mỹ sống, thỉnh thoảng cha Lương gọi điện hỏi thăm. Cha cũng kết bạn với tôi trên Facebook. Trong những lần trò chuyện, cha thường dặn: “Đừng gọi tôi là cha rồi xưng con. Mình cùng tuổi, cứ gọi anh em cho thân tình.” Thật ra cha sinh cùng năm với tôi, chỉ lớn hơn tôi vài tháng.
Chúng tôi từng hẹn với cha rằng, một ngày nào đó khi xuống Houston thăm các em tôi, sẽ ghé thăm cha. Thế nhưng thời gian trôi qua, cha bỗng dưng không còn liên lạc nữa. Trang Facebook của cha cũng lặng im. Tôi nghĩ có lẽ cha bận rộn với công việc mục vụ, nhất là trong thời gian dịch Covid khi các giáo xứ phải lo toan nhiều việc. Quý cũng nói đã khá lâu rồi anh không còn nói chuyện với cha.
Cho đến một ngày, Quý vào trang mạng của giáo phận nơi cha phục vụ để tìm lại thông tin. Nhưng điều anh tìm thấy lại là một cáo phó đã đăng từ trước: cha Gioan Baotixita Trần Quang Lương đã qua đời vào năm 2021. Sững sờ trước tin ấy, Quý gọi điện đến văn phòng giáo phận và được cho biết cha mất tại bệnh viện, với nghi vấn do phản ứng nặng sau khi chích ngừa Covid.
Tin Quý báo đến quá đột ngột khiến vợ chồng tôi bàng hoàng. Thật đau buồn! Mới đây thôi, chúng tôi còn trò chuyện với cha qua những cuộc điện thoại. Giọng cha vẫn thân tình, ấm áp hỏi han về cuộc sống của gia đình tôi. Vậy mà giờ đây, ngài đã đi về một cõi khác. Cuộc đời nhiều khi mong manh đến vậy. Tưởng rằng ngày gặp lại đã ở rất gần, sẽ có biết bao câu chuyện để kể, vậy mà cơ hội ấy không bao giờ còn nữa.
Chúng tôi lặng lẽ đọc một lời kinh cầu nguyện, xin cho linh hồn cha được an nghỉ nơi nước Thiên Đàng. Trong lòng, chúng tôi vẫn giữ lại hình ảnh một người anh, một linh mục hiền lành, khiêm nhường và khả kính.
Rồi cuối cùng vợ chồng tôi cũng có dịp gặp lại cha, nhưng chỉ qua hình ảnh trên phần mộ. Hôm nay, chúng tôi đến viếng ngài. Trên đường đến nơi cha yên nghỉ, Quý kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời của cha Lương.
Cha sinh ra tại Bình Thuận, trong một gia đình có mười một anh chị em. Khi biến cố năm 1975 xảy ra, cha đang là chủng sinh của Đại chủng viện Sao Biển ở Nha Trang. Sau năm 1975, nhiều cơ sở đào tạo tôn giáo bị hạn chế hoạt động, và đến tháng 6 năm 1979 thì Đại chủng viện Sao Biển bị tịch thu. Các chủng sinh buộc phải rời khỏi nơi tu học. Con đường tu trì của cha bỗng chốc bị cắt ngang. Trong hoàn cảnh ấy, với sự giúp đỡ của người thân, cha Lương quyết định vượt biên, tìm đường ra đi.
Sau khi đến Mỹ, cha tiếp tục con đường học vấn. Năm 1985, cha hoàn tất chương trình Triết học tại Holy Trinity Seminary ở Irving, Texas, rồi theo học Thần học tại St. John Seminary ở Boston. Ngày 16 tháng 12 năm 1989, cha được thụ phong linh mục tại nhà thờ St. Anthony Cathedral.
Trong nhiều năm sau đó, cha phục vụ tại các giáo xứ thuộc giáo phận Beaumont. Từ năm 1999 cho đến khi qua đời, cha đảm nhiệm công việc mục vụ tại nhà thờ Our Lady of Sorrows, thuộc thị xã China, Texas.
Thị xã China cách Houston hơn hai giờ lái xe, nằm ở phía đông nam Texas, dân cư thưa thớt, chỉ hơn một ngàn người. Nơi ấy giống một làng quê hơn là một thị trấn. Con đường dẫn vào vắng lặng. Hai bên là những cánh đồng rộng, thỉnh thoảng mới thấy vài con bò hay ngựa đang bình yên gặm cỏ. Một ngôi nhà thờ gạch đỏ nhỏ bé hiện lên giữa khoảng đất rộng. Hôm ấy là Chủ nhật nhưng cửa nhà thờ đóng kín, có lẽ vì chúng tôi đến ngoài giờ lễ. Ngay lối vào có tấm bia đá khắc tên các linh mục chánh xứ đã qua đời. Tên cha Gioan Baotixita Trần Quang Lương nằm ở giữa. Cha sinh năm 1958 và qua đời năm 2021.
Chúng tôi hỏi thăm một thanh niên đang cắt cỏ về nghĩa trang nơi cha an nghỉ. Theo hướng dẫn của anh, Quý lái xe thêm một đoạn rồi rẽ vào con đường đất nhỏ. Nghĩa trang China Cemetery nằm ở cuối đường. Đó là một nghĩa trang rất đơn sơ. Không hàng rào, không cổng. Những ngôi mộ nằm rải rác trên khu đất bằng phẳng. Có những cụm mộ cùng một họ, có lẽ thuộc về những gia đình sống lâu đời ở vùng này.
Sau một hồi tìm kiếm, chúng tôi cũng thấy ngôi mộ của cha. Tấm bia còn khá mới. Trên đó khắc bức ảnh cha khi còn trẻ, gương mặt hiền hậu, đầu đội chiếc mũ cao bồi đặc trưng của Texas. Quanh mộ đã có vài bó hoa tươi. Quý nhẹ nhàng đặt thêm bó hoa anh mang theo từ sáng.
Chúng tôi dọn bớt cỏ dại quanh mộ, rồi đứng lặng lẽ đọc vài kinh cầu nguyện cho cha. Dường như có những giọt nước mắt âm thầm lăn trong lòng mỗi người. Nhìn sự cô đơn của ngài nơi đây, chúng tôi càng cảm nhận rõ hơn sự hy sinh thầm lặng của những con người đã hiến trọn đời mình để phục vụ đức tin.
Gió chiều nhè nhẹ thổi qua nghĩa trang của một làng quê nhỏ. Giữa khung cảnh tĩnh lặng ấy, có ba người từ phương xa tìm đến, chỉ để đặt một bó hoa bên mộ của người bạn từng đi chung chuyến ghe vượt biển năm nào, rồi lặng lẽ cầu nguyện. Một hình ảnh đẹp, nhưng cũng thật bi tráng.
Tôi chợt liên tưởng về chuyến tàu năm 1979 của cha Lương, của Quý và gia đình nhà vợ tôi. Những ngày lênh đênh trên biển, những đêm đen đặc không ai biết mình sẽ trôi dạt về đâu. Giữa những con người ra đi năm ấy có một chủng sinh của Đại chủng viện Sao Biển, có lẽ cũng chỉ mong thoát khỏi một hoàn cảnh bức bách. Không ai có thể hình dung rằng hơn bốn mươi năm sau, một người trong số họ sẽ nằm lại giữa những cánh đồng Texas, và cái chết của mình sẽ khiến ba người bạn cũ lặn lội hai giờ đường để đến đặt một bó hoa bên mộ.
Đời người, nhìn trong một quãng dài, thực ra chỉ là chuỗi những cuộc gặp gỡ rồi chia xa. Người ta đến với nhau ở một thời điểm nào đó, cùng đi chung một đoạn đường, rồi rẽ sang những lối khác. Nhưng chính những lần gặp gỡ ấy lại làm nên ý nghĩa của cả hành trình. Nếu không có chúng, cuộc đời có lẽ chỉ còn là một dòng thời gian trôi qua lạnh lẽo và vô nghĩa.
Rời ngôi giáo đường nhỏ cổ kính ở thị xã China, chúng tôi ra về với nỗi bùi ngùi khó tả. Chuyến đi này, suy cho cùng, cũng là một cuộc chia tay muộn màng: chia tay một người anh từng chung chuyến thuyền năm nào, nay đã yên nghỉ nơi đây; chia tay một linh mục đã dành trọn đời mình cho sứ vụ. Trang mạng của Giáo phận Beaumont mô tả cha như một mục tử hiền lành, vui tính, yêu âm nhạc, thích săn bắn và đặc biệt rất thương mến giáo dân.
Trên đường trở lại Houston, tôi nghĩ rất nhiều về cuộc đời của cha. Một câu hỏi tưởng chừng giản dị nhưng lại gợi nhiều suy ngẫm cứ hiện lên trong lòng: trong đời người, rốt cuộc điều gì ở lại lâu hơn? Nơi ta sinh ra, hay nơi ta được cần đến?
Cha Lương sinh ra ở Bình Thuận, lớn lên trong một gia đình đông anh chị em. Quê nhà với mùi gió biển và tiếng chuông nhà thờ mỗi buổi chiều chắc hẳn vẫn còn đó.Thế nhưng nơi cuối cùng giữ lại thân xác ngài lại là một nghĩa trang nhỏ ở Texas, trong một thị trấn mà có lẽ khi còn ở Việt Nam, ngài chưa từng nghe đến tên. Đó có phải là một cuộc lưu lạc? Hay chính là một cách hoàn tất của đời người?
Nghĩ đến đó, tôi chợt hiểu rằng quê hương của một con người không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn. Quê hương còn là nơi ta đã trao đi phần đời sâu nhất của mình. Nếu vậy, thì thị xã China kia cũng là quê hương của cha. Bởi ở đó, ngài đã rửa tội cho những đứa trẻ mới chào đời, đã cử hành lễ cưới cho những đôi vợ chồng trẻ, và cũng đã tiễn đưa bao người về với Chúa. Ở đó có những gia đình từng nắm tay ngài trong giờ phút hấp hối của người thân. Ở đó có những bài giảng giản dị mỗi sáng Chúa nhật. Và ở đó có những người vẫn còn nhớ và thương mến cha.
Có lúc tôi tự hỏi, nếu một ngày nào đó chính mình cũng nằm xuống nơi đất khách, liệu còn ai nhắc đến tên tôi bằng một giọng trìu mến? Nhưng nghĩ kỹ hơn, tôi nhận ra những câu hỏi ấy không còn quan trọng nữa. Điều quan trọng không phải là ta sẽ được chôn cất ở đâu, hay sau này còn bao nhiêu người nhớ đến mình. Điều quan trọng hơn cả là trong quãng đời đã đi qua, ta đã sống như thế nào.
Cha Lương ra đi khi phía trước vẫn còn nhiều năm có thể tiếp tục phục vụ. Nhưng nhìn lại, bốn mươi năm sống nơi xứ người của ngài không phải là một cuộc đời lạc lõng hay bị bỏ quên. Đó là bốn mươi năm bền bỉ và trung thành với ơn gọi của mình. Một đời người không cần phải quá dài, cũng không cần phải quá rực rỡ. Chỉ cần sống trọn vẹn và trung thành với điều mình tin tưởng, có lẽ như thế đã là đủ.
Khi chúng tôi rời nghĩa trang, tôi ngoái nhìn lần cuối. Ngôi mộ nhỏ nằm lặng giữa khoảng đất trống. Không hàng rào. Không cổng sắt. Không tiếng người. Chỉ có bầu trời rộng mở.
Và trong cái rộng lớn ấy, tôi chợt thấy đời người tuy bé nhỏ nhưng không hề vô nghĩa. Người đã nằm xuống thì đã hoàn tất phần đường của mình. Người ở lại tiếp tục bước đi, mang theo ký ức, mang theo những câu chuyện, và mang theo cả một bó hoa chưa kịp tàn. Có lẽ đó chính là cách con người giữ nhau lại trong đời, bằng sự nhớ đến.
Trương Hữu Hiền





