Hôm nay,  

Viết Cho Ông Bà Nội

26/03/202600:00:00(Xem: 1338)

  

TG Sapy Nguyễn Văn Hưởng
TG Sapy Nguyễn Văn Hưởng
Tác giả là cư dân San Diego, đã hai lần thắng giải Viết Về Nước Mỹ. Năm 2001, với bài "Hoa Ve Chai", ông nhận giải danh dự. Ba năm sau, với bài viết "Giọt Nước Mắt," kể về Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam tại tiểu bang New Jersey do một kiến trúc sư Việt Nam vẽ kiểu, ông nhận giải chung kết Viết Về Nước Mỹ 2004. Ông tiếp tục viết bài và tham gia sinh hoạt giải thưởng VVNM hàng năm. Mùa lễ Tạ Ơn năm nay, tác giả gửi đến Viết Về Nước Mỹ một loạt 5 bài bút ký thấm đậm tình người từ trong gia đình đến những người thân quen của mình. Sau đây là bài thứ tư: Viết Cho Ông Bà Nội.
 
***
 
Tin Ông Nội buồn bã, suy sụp tinh thần vì Bà Nội bệnh nặng, phải đưa đi cấp cứu, đến với tôi vào một đêm khi cả nhà còn đang say ngủ. Sợ làm mọi người thức giấc, tôi lặng lẽ bước ra khỏi phòng, cầm xâu chuỗi trên tay, quỳ trước tượng Đức Mẹ La Vang đặt ở phòng khách. Tôi khẽ thì thầm đọc kinh, xin Đức Mẹ cầu bầu cùng Chúa, giữ Ông Bà trong ơn bình an, xua tan mọi sự dữ, cho tai ương lùi thật xa…
 
Bao kỷ niệm bên Ông Bà như một đoạn phim quay chậm, cứ lặng lẽ hiện về, rõ ràng, dịu dàng mà cũng chạnh lòng xót xa. Tôi cố gắng ghi lại tất cả những gì còn nhớ, như một món quà nhỏ dành riêng cho Ông Bà, cũng là để sau này con cháu tôi hiểu thêm về quãng đời tôi từng bé bỏng, từng được yêu thương bằng trọn vẹn tấm lòng của những người đã lặng lẽ hy sinh cả đời vì con cháu.
 
*
 
Ba tôi là con thứ hai trong nhà. Tôi là con gái đầu lòng của ba, cũng là đứa cháu đầu tiên nên được Ông Bà Nội cưng chiều hết mực. Tôi sinh ra vào thời đất nước còn nhiều khó khăn. Ba mẹ bận rộn lo toan việc miếng cơm manh áo, vì vậy Ông Bà chính là người chăm sóc tôi nhiều nhất. Ngoài tám người con ruột, Ông Bà coi tôi như đứa con gái út trong nhà.
 
Biết Ông Bà thương, tôi thường hay giành phần ăn với các chú Bảy, chú Tám, lẫn chú Út. Miếng ngon nào Ông Bà cũng để dành cho tôi trước. Trái xoài cắt ra, ông nội một má, tôi một má, còn mấy chú thì mút hột xoài.
 
Tối nào tôi cũng được nằm sát bên Bà Nội, còn các chú phải nằm cách xa. Ông Bà sai các chú thay phiên nhau dắt tôi đi chơi, khi thì dạo quanh phố chợ, khi thì chở tôi đi ăn mấy món tôi thích. Các chú còn phải đút tôi ăn sáng, cột tóc cho tôi, rồi đưa đón tôi đến trường. Tuy hỉ mũi còn chưa sạch, tôi đã biết "mánh". Mỗi khi chú nào lỡ la mắng, tôi liền chạy lại khóc với ông nội. Tôi biết chắc chú ấy sẽ bị ông la, dặn phải nhẹ nhàng với tôi.
 
Những kỷ niệm riêng với ông nội vẫn còn nguyên vẹn. Trưa nào ăn xong, ông cũng khom lưng cho tôi leo lên lưng, ôm cổ, rồi ông cõng tôi nhong nhong lên tầng ba ngủ trưa. Hai ông cháu nằm duỗi tay nghe nhạc. Nhờ vậy, từ bé tôi đã quen nghe những giai điệu buồn đến nao lòng. Mãi sau này lớn lên tôi mới biết đó là cải lương vọng cổ, nhạc quê hương, nhạc bolero. Mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn thấy thương ông vô cùng, nhớ cái cảm giác được ôm chặt lưng ông, được ông bế lên cao, thấy mình nhỏ xíu mà được chở che.
 
Từ hồi học mẫu giáo tới lớp Ba, học kỳ nào tôi cũng đứng nhất lớp. Ông Nội mỗi lần nghe tin tôi được phát phần thưởng, lại dẫn tôi ra tiệm phở Tàu Bay. Ăn xong, về tới nhà, Ông còn cho mấy chú chạy ra mua hẳn một ký kem. Tôi nhớ rõ mấy lần cả nhà xúm xít quanh mâm, xẻ từng miếng kem mát lạnh, ai cũng cười nói rôm rả. Tôi hãnh diện lắm, vì nhờ tôi học giỏi mà cả nhà được dịp quây quần ăn kem giữa trưa nóng Sài Gòn. Nay nghĩ lại, tôi cũng xin thú thật để tạ tội cùng mấy cô mấy chú: nhờ được Ông Bà Nội thương quá, tôi hay giành phần, nhiều khi lấn lướt. May mà ai cũng thương, cũng bỏ qua cho đứa cháu út hay vòi vĩnh.
 
Tôi còn nhớ những buổi chiều tối, Bà Nội hay dắt tôi ra chợ trời mua đồ về nấu cơm. Tôi thì cứ vòi vĩnh mua đúng thứ tôi thích. Lần nào Bà cũng chiều. Xách giỏ về, Bà vào bếp ngay, nấu nào canh chua cá bông lau, cá rô kho tộ… toàn những món tôi mê nhất. Nhìn Bà ngày nào cũng loay hoay trong bếp, tôi càng thương Bà nhiều hơn. Tôi hiểu rằng, bây giờ mình biết chăm chồng, lo con chu đáo… tất cả đều học được từ tấm gương Bà Nội.
 
Hình ảnh tôi nhớ nhất là năm lên sáu, tôi bị trái rạ. Thuở ấy thuốc men còn thiếu thốn, chỉ còn thuốc Nam, thuốc Bắc đắng nghét, tôi cứ nhăn mặt không chịu uống. Vậy mà Bà vẫn kiên nhẫn ngồi cạnh, dỗ dành, đút cho tôi từng ngụm. Tôi còn nhớ rõ đôi tay Bà mềm mại, mát rượi, áp lên cái trán nóng hổi, xoa cho tôi dễ chịu hơn.
 
Viết đến đây, trong đầu tôi lại vang lên bài thơ "Bà Ơi, Cháu Rất Yêu Bà". Tôi chẳng biết tác giả là ai, nhưng xin chép mấy câu đầu, viết hoa hết chữ Bà, như một lời thưa cùng Bà Nội:

Bà ơi cháu rất yêu Bà
Đi đâu Bà cũng mua quà về cho
Hôm qua có chiếc bánh bò
Bà chia cho cháu phần to nhất nhà
Mỗi lần cháu chạy chơi xa
Hễ mẹ cháu đánh thì Bà lại can
 
*
 
Ngày cả gia đình tôi lên đường sang Mỹ định cư, tôi mới vừa tròn tám tuổi. Tôi vẫn nhớ như in buổi tiễn đưa ngoài sân bay hôm ấy. Bà ôm chặt tôi trong vòng tay, vừa khóc vừa thì thầm bên tai:
 
- Con ráng học giỏi, để sau này có tương lai nghe con.
 
Ông tôi thì chẳng nói gì, chỉ cần nhìn ánh mắt và vòng tay siết nhẹ, tôi đã cảm được hết tình thương Ông dành cho đứa cháu đầu tiên của Ông.
 
Những năm tháng lớn lên nơi xứ người, tôi càng thấm thía tình thương ấy. Tôi hiểu, phần lớn người Việt rời bỏ quê hương cũng chỉ mong con cháu có một cuộc sống đàng hoàng, đủ đầy, được ăn học tử tế. Chính vì vậy, tôi luôn tự nhắc mình phải cố gắng học hành chăm chỉ, để không phụ lòng Ông Bà đã đặt trọn niềm tin nơi tôi.
 
Ông Bà Nội tôi đều là con nhà nghèo, được cắp sách tới trường chắc cũng chỉ đôi ba năm. Vậy mà bao nhiêu điều làm người, tôi đã học được từ Ông Bà ngay thuở còn ê a đánh vần. Tôi vẫn nhớ hoài, mỗi bữa cơm, trước khi cầm đũa, Ông Nội chậm rãi dạy: bữa ăn không chỉ để nuôi thân, mà còn nuôi nếp nhà. Ông bảo: con gái nên ngồi gần nồi cơm, bới xới cho cả nhà được ấm lòng. Gắp miếng cá cũng phải xoay cho khéo, chỉnh cho ngay, để người khác dễ gắp. Ăn thì đợi người lớn gắp trước, đừng chen đua, phải biết nhường trước, gắp sau. Những điều coi bộ nhỏ nhặt ấy, vậy mà Ông coi như gốc rễ, để đứa cháu sau này biết nghĩ cho người bên cạnh.
 
Còn Bà Nội thì khác. Bà dạy tôi cách sống, cách giữ lòng. Tôi nhớ hoài câu bà thường nhắc: "Nhìn lên thì mình thua kém biết bao nhiêu người, nhưng nhìn xuống thì mình cũng còn hơn khối người. Vậy nên lúc nào cũng phải biết trân trọng cái mình đang có, đừng than phiền, đừng so bì." Chỉ bấy nhiêu thôi mà tôi học được chữ khiêm nhường, biết cúi đầu tạ ơn đời trong mọi cảnh ngộ.
 
Không chỉ dạy lễ nghĩa, Ông Bà còn uốn nắn tôi biết sống chắt chiu, tiết kiệm từng đồng, trân quý từng bữa cơm. Những bài học tưởng chừng giản dị ấy lại thành hành trang bền vững nhất tôi mang theo.
 
Tôi viết lại tất cả như một cách gìn giữ hình bóng Ông Bà, cũng để con cháu tôi mai sau biết rằng, trên đời này, tôi đã từng được thương yêu và dạy dỗ ra sao. Tôi tin, lý do tôi còn nói, còn viết được tiếng Việt trôi chảy đến hôm nay, cũng là nhờ những buổi ngồi bên Ông Bà, nghe kể chuyện, nghe dạy từng lời. Nếu một ngày tôi không còn nói được tiếng Việt, tôi sẽ mất đi sợi dây thiêng liêng gắn kết với cội nguồn.
Giờ đây, tôi chỉ mong có thể truyền lại ngôn ngữ, nếp nhà ấy cho các con mình. Và để làm được điều đó, tôi tự nguyện trở thành cô giáo ở trường Việt ngữ Saddleback, cũng chính là thầy cô của các con tôi. Tôi mong mọi điều tốt đẹp Ông Bà đã dành cho tôi sẽ được gìn giữ, tiếp nối và nở hoa qua bao thế hệ sau này.
*
Đến nay, tôi đã bước qua tuổi bốn mươi, nhưng thật lòng mà nói, nhiều khi vẫn chẳng biết mình đang ở giai đoạn nào của cuộc đời. Trong đầu tôi chợt vang lên mấy câu ca dao xưa, mộc mạc mà thấm thía, từng được bao thế hệ phụ nữ Việt Nam thuộc nằm lòng:

Lấy chồng từ thuở mười ba,
Đến năm mười tám thiếp đà năm con.
Ra đường thiếp hãy còn son,
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
 
Thời buổi tôi đang sống, chuyện lấy chồng từ tuổi mười ba là điều không tưởng. Thế mà đến năm ba mươi sáu, tôi cũng đã là mẹ của năm đứa con. Lạ thay, hai câu cuối lại như tả đúng đời tôi:

Ra đường tôi vẫn còn son,
Về nhà tôi đã năm con cùng chồng.

Những câu ca dao xưa, tưởng chỉ để thương cảm phận đàn bà thời trước, vậy mà với tôi, lại gợi hình bóng Bà Nội rõ nhất. Ngày xưa, nhà Bà bán bún măng cháo vịt nổi tiếng ngay đường Huỳnh Thoại Yến, trước cửa chợ Bình Tây. Buổi chiều, cả nhà rộn ràng: người cắt cổ vịt, người lấy huyết, luộc vịt, người lo sơ chế. Tôi, mấy chú và ông nội thì phụ Bà nhổ lông vịt. Không khí rộn rã, ấm áp, ai cũng tay làm miệng cười.

Sáng hôm sau, trước khi đi học, tôi luôn được Bà để dành riêng cho một chén cháo vịt nóng hổi. Buổi trưa tan trường, trước khi cả nhà thu dọn, tôi lại có "đặc quyền" ngồi gặm xí quách vịt bên ông nội, vừa ăn vừa nghe ông kể chuyện. Cái xương vịt mềm, ngọt tận tủy, hương vị ấy tôi vẫn nhớ mãi.

Suốt đời, Bà Nội tảo tần lo toan, gánh vác để nuôi chồng, dạy con, thương cháu chắt. Bà quên mình để nghĩ cho mọi người. Đến khi lâm bệnh nằm viện, Bà vẫn lo cho ông nội, sợ không ai thay Bà lo cơm nước, thuốc thang. Với tôi, Bà Nội là một thiên thần Chúa ban cho gia đình này, lặng lẽ làm gương sáng cho con cháu học cách nhẫn nhịn, vun đắp nghĩa tình, gieo yêu thương vào từng góc nhà, từng phận người.

Tôi luôn cảm tạ Ơn Trên đã ban cho tôi một thiên thần để được yêu thương, và để học cách thương yêu giữa cuộc đời nhiều bão dông. Tôi mong sao, giữa bao đổi thay, lòng mình vẫn giữ được chút ấm áp xưa cũ ấy, một góc trời bình yên, có Bà hiền từ, có bữa cháo vịt thơm lừng, có tiếng cười lan khắp nhà.
 
Tôi chắp tay nguyện cầu:
Xin giữ lại chén cháo chiều xưa,
Giữ chút khói bếp, giữ tiếng cười Bà.
Đời dẫu rộng, lòng xin còn một góc,
Một góc trời nhỏ, có Bà, có quê nhà.
 
*
 
Tôi nhớ rõ, cuộc đời mình thật sự sang trang khi vừa tròn hai mươi mốt tuổi. Khi ấy, tôi và anh Nguyễn Lập Quốc đã gắn bó hơn một năm. Tôi biết gia đình anh là người Công giáo, và tin rằng vợ chồng cùng chung đức tin sẽ thuận hòa hơn. Nghĩ vậy, sau khi được ba mẹ đồng ý, tôi lặng lẽ tìm đến một nhà thờ Công giáo ở Buffalo, xin học giáo lý như một món quà cho chính mình và cho đoạn đường tương lai.
 
Người đầu tiên tôi gặp là Linh mục Nguyễn Minh Từ, khi ấy đã ngoài sáu mươi. Nghe tôi bày tỏ, cha mỉm cười hiền hậu, đưa tôi một tờ đơn và dặn:
 
- Con điền đầy đủ lý lịch của mình và cả người chồng sắp cưới nhé.
 
Tôi khẽ thưa, thoáng bối rối:
 
- Thưa cha, con chỉ muốn học đạo để trở thành người Công giáo thôi, chứ chưa có ai hỏi cưới con hết!
 
Cha nhìn tôi, ánh mắt thấu hiểu, rồi cười hiền:
 
- Mấy đứa trẻ tụi con thường xin học giáo lý để làm lễ cưới. Trường hợp của con đặc biệt, nên chính cha sẽ dạy giáo lý và làm phép rửa tội cho con.
 
Từ hôm ấy, sáng thứ Bảy nào cha Từ cũng dành hẳn một giờ để dạy riêng tôi. Những buổi đầu tôi còn nhiều bỡ ngỡ, nhưng cha kiên nhẫn giảng giải từng điều răn, ý nghĩa đức tin, dạy tôi biết yêu thương, tha thứ, nhường nhịn, hy sinh. Nhờ cha, tôi học được cách tựa vào Lời Chúa khi lòng chao đảo, tìm về bình yên, thêm mạnh mẽ để bước tiếp. Những lời dạy năm xưa, tôi vẫn giữ như một hành trang thiêng liêng.
Mùa hè năm ấy, tôi tốt nghiệp đại học với tấm bằng Bachelor of Science. Niềm vui ấy thêm trọn vẹn khi anh Quốc chính thức cầu hôn. Qua chuyện này, tôi càng thấm thía sự khác biệt giữa phong tục cưới hỏi của người Mỹ và người Việt. Tôi may mắn được đón nhận cả hai nét văn hóa đẹp, nhất là khi nghe anh Quốc kể lời bố anh:
 
- Theo bố hiểu, người Mỹ kết hôn chủ yếu do hai đứa quyết định, gia đình không can thiệp sâu. Còn người Việt, cưới xin không chỉ là chuyện hai người mà còn là chuyện của hai gia đình, cả hai dòng họ. Bố không thể quyết định gì nếu chưa hỏi ý Ông Bà Nội.
 
Tôi bật cười, nói với anh:
 
- Em cũng còn Ông Bà Nội nữa mà.
 
Nhờ vậy, chuyện cưới hỏi của tôi và anh Quốc được hai bên gia đình cùng lo liệu, đủ lễ nghi, đầy ấm áp nghĩa tình. Tôi nhân dịp đó làm giấy mời Ông Bà Nội sang Mỹ dự lễ tốt nghiệp, lễ hỏi, và quan trọng nhất là chứng kiến giây phút tôi chính thức trở thành con cái Chúa, như đã ước nguyện từ buổi đầu bước vào sân nhà thờ Buffalo.
 
Đêm ấy, tôi nằm nghe tiếng lá phong rơi ngoài cửa sổ, lòng bình yên lạ. Tôi biết mình đã kịp ghi dấu một mùa hè đẹp nhất của tuổi trẻ, mùa hè của đức tin, của tri ân, và của một mái ấm đang chờ tôi vun đắp phía trước.
 
*
 
Tôi vẫn nhớ như in buổi sớm hôm ấy, cả nhà cùng ra phi trường Buffalo Niagara đón Ông Bà Nội. Có lẽ nhờ lá thư tôi tự tay viết gửi Sở Di trú, mà giấy tờ xin visa của Ông Bà được suôn sẻ, không vướng trở ngại nào.
 
Chúng tôi dậy từ tinh mơ. Trên xe, ai cũng im lặng, chỉ riêng tôi trong lòng cứ rộn ràng. Sau mười ba năm xa cách, bao lần chỉ nhìn thấy Ông Bà qua tấm ảnh, dù giọng nói, tiếng cười vẫn vang đều mỗi đêm qua những cuộc gọi đường dài. Đến khi bảng điện tử báo chuyến bay hạ cánh đúng giờ, tim tôi như đánh trống dồn. Tôi đứng ngồi không yên. Ba mẹ, cả thằng Long em tôi cũng thấp thỏm, cứ đi tới đi lui, mắt dõi ra cửa đón khách.
 
Khi nhận ra bóng Ông Bà được đẩy ra trên xe lăn, lòng tôi chợt thắt lại. Tôi chạy ào tới, dang tay ôm chầm cả hai Ông Bà một lượt. Nước mắt chưa kịp rơi thì đã nghe tiếng Ông Nội cười hóm hỉnh:
 
- Người bán vé máy bay xin cho Ông Bà ngồi xe lăn, vì tuổi cao mà đâu biết tiếng Anh! Nhờ có người đẩy, Ông Bà khỏi sợ lạc!
 
Trời Buffalo như vừa thức dậy sau mùa đông dài, khí trời dịu mát, nhưng với người Việt quen cái nóng quanh năm nơi phương Nam, vẫn là lạnh lẽo, xa lạ. Ba tôi cởi vội chiếc áo khoác ngoài, đắp lên vai Ông. Tôi cũng choàng áo mình lên vai Bà.
 
Cả nhà ngồi kín trên xe, đưa Ông Bà đi một vòng quanh Buffalo, thành phố đã chở che gia đình tôi suốt mười ba năm kể từ ngày rời quê nhà. Qua cửa kính, ánh mắt Ông Bà dõi theo những con phố yên bình, rộng thênh thang; những ngôi nhà gạch đỏ mái nhọn ẩn mình giữa vườn cây, bồn hoa tulip, hoa thủy tiên khoe sắc dưới nắng non. Trời tháng Năm trong xanh, nắng vàng nhạt như tấm chăn mỏng phủ lên cỏ cây vừa bừng tỉnh. Không tiếng còi xe, không khói bụi, chỉ có gió nhẹ và hương hoa.
 
Xe chạy chầm chậm dọc đại lộ Elmwood, hai bên là những hàng phong xanh lẫn vàng, lá non lấp lánh như rắc mật. Khi vòng ra hồ Erie, mặt hồ mở ra mênh mông, nước trong veo, gợn sóng lăn tăn phản chiếu mây trời. Ông Bà nhìn hồ mà ngỡ như đang ngồi bên biển Vũng Tàu hay Nha Trang năm nào. Tôi thấy Bà khép hờ mắt, môi mấp máy như thì thầm điều gì chỉ riêng Bà nghe.
 
Ba tôi chậm rãi kể cho Ông Bà nghe về từng góc phố, từng mùa tuyết trắng rồi lại mùa lá vàng. Em tôi chồm qua cửa sổ, chỉ tay thích thú: "Kìa Ông Bà, nhà ai cắm cờ Mỹ, cờ Việt kìa!" Tôi nhìn Ông Nội mỉm cười. Trong cái lạnh phảng phất của Buffalo tháng Năm, tôi vẫn nghe ấm lạ lùng, hơi ấm từ chiếc áo ba vừa cởi, từ bàn tay Bà đặt lên tay tôi, từ ánh mắt Ông nhìn về quê hương xa xôi.
 
Nhìn ánh mắt Ông Bà, tôi như thấy lại chính mình buổi đầu đặt chân đến xứ này: bỡ ngỡ, ngẩn ngơ, trong lòng không thôi so sánh. Ở quê, đường hẹp nhưng lúc nào cũng đông, tiếng rao hàng chen lẫn tiếng còi xe; ở đây, đường rộng hun hút mà vắng bóng người. Ở quê, vườn nhà chen cây trái, tiếng gà gáy, tiếng trẻ con gọi nhau; ở đây, mỗi căn nhà như riêng một cõi, vườn cỏ cắt gọn ghẽ mà im lìm. Bình yên đến mức chỉ nghe gió lùa qua hàng phong cũng đủ làm người mới tới chạnh lòng, thèm một tiếng rao, một hơi khói bếp.
 
Tối hôm ấy, cả nhà quây quần trong phòng khách. Ông Nội nhìn tôi cười:
 
- Chuyến này Ông Bà qua để mừng Lan Chi được cả Tiểu Đăng Khoa lẫn Đại Đăng Khoa.
 
Tôi ngơ ngác:
 
- Con không hiểu, sao lại gọi vậy hở Ông?
 
Ông vuốt tóc tôi, giọng ấm áp:
 
- Bằng Cử nhân Khoa học con vừa nhận, với Ông Bà đã là hạng nhất rồi, coi như con đỗ Đại Đăng Khoa. Còn chuyện con sắp làm đám hỏi, Ông Bà coi đó là Tiểu Đăng Khoa.
 
Tôi bật cười trong nước mắt. Giây phút ấy, tôi hiểu: tất cả những gì tôi có được hôm nay, tấm bằng, mái ấm sắp gây dựng… đều bắt đầu từ tình thương, từ những bước chân lam lũ của Ông Bà, Cha Mẹ. Giữa đất Mỹ xa xôi, lòng tôi bỗng thấy quê nhà gần hơn bao giờ hết.
 
*
 
Tôi đã dự không biết bao nhiêu đám cưới, đám hỏi của người thân, bạn bè. Nhưng đến ngày đám hỏi của chính mình, tôi mới thật sự hiểu: một lễ hỏi có thể rất đơn sơ mà lại thiêng liêng, ấm áp, thắm đượm nghĩa tình gia tộc, để rồi trở thành kỷ niệm theo suốt đời.
 
Hôm ấy, gần hai mươi người họ đàng trai từ San Diego và từ Canada bay sang Buffalo dự lễ ăn hỏi. Điều tôi mừng nhất là sự hiện diện của Ông Bà Nội. Tôi vẫn nhớ khoảnh khắc tôi và anh Quốc kính cẩn nâng ly rượu dâng Ông Bà; mắt Ông Nội đỏ hoe, còn Bà rươm rướm nước mắt. Tôi không ngờ nghi thức ấy lại thiêng liêng đến vậy.
 
Trong niềm vui ấy vẫn len vào một chút buồn. Sau khi bố anh Quốc thay mặt Ông Bà Nội, vì tuổi đã cao không thể sang dự, trình ngày làm lễ cưới và được Ông Bà chấp thuận, hai ông bà cũng xin phép cho tôi và Quốc đổi cách xưng hô, cho tôi được gọi bố mẹ anh Quốc bằng "Bố Mẹ" thay vì "Bác". Nhưng lúc ấy, họ chưa gật đầu, vì vẫn giữ riêng một lý do chưa tiện nói ra.
 
Hôm đó, trong bữa tiệc, tôi ngỏ ý xin bố mẹ anh Quốc cho tôi được rửa tội tại San Diego. Ông Bà nhận lời ngay, còn mời luôn Ông Bà Nội tôi sang dự. Đến San Diego, Ông Bà Nội tôi được bố mẹ anh Quốc đón tiếp chân tình. Họ đưa Ông Bà đi khắp những bãi biển quanh La Jolla, ngắm vách đá nâu vàng soi bóng nước xanh biếc, nhìn sư tử biển phơi mình trên triền đá, rồi thong thả bước chân trần trên cát trắng mịn bên lâu đài Del Coronado, và gặp gỡ bà con, bạn bè như ra mắt gia đình mới.
 
Buổi lễ rửa tội diễn ra tại nhà thờ Holy Family, cũng là nơi gần hai mươi năm trước, bố mẹ anh Quốc đã được rửa tội. Hôm ấy, cả nhà đến nhà thờ sớm hơn một tiếng, chẳng ai hiểu vì sao, mãi đến khi ngồi vào bàn tiệc sau lễ tôi mới biết.
 
Chiều hôm trước, bố mẹ anh Quốc đưa Ông Bà Nội tôi đến nhà hai bác Nguyễn Văn Giáo, bố mẹ đỡ đầu ngày anh Quốc rửa tội. Sau bữa cơm, hai bác rủ Ông Bà Nội tôi đi dạo và dặn: "Ngày mai, cả nhà nhớ đến nhà thờ sớm ít nhất một tiếng." Sáng hôm sau, khi chờ trong sân nhà thờ, bác Giáo đưa riêng Bà Nội tôi vào gặp linh mục Phạm Văn Cường. Một lát sau, Bà trở ra, gương mặt tươi cười mà nước mắt ràn rụa.
 
Thì ra, Bà sinh trong gia đình Công giáo, được rửa tội từ bé với tên thánh Maria. Thời con gái, Bà ngoan đạo, nhưng vì nghèo, phải đi làm người ở nên hay lỡ lễ Chúa Nhật. Có lần, khi Bà xưng tội lâu và khóc, người anh họ mách với Ông Bà Cố, khiến Bà bị đòn đau và mang ám ảnh mãi. Về sau, lấy Ông Nội không theo đạo, Bà mang mặc cảm "rối đạo", không dám đến nhà thờ nữa. Hồi nhỏ tôi từng thấy Bà giấu ảnh Chúa và tràng hạt trong ngăn tủ sát giường hai bà cháu, đêm vẫn lặng lẽ lần hạt.
 
Nghe chuyện, bác Giáo liền đưa Bà vào trình cha sở. Bà được cha Cường giải tội, và lần này nước mắt Bà là giọt lệ vui mừng, khác hẳn nước mắt tủi hờn nửa thế kỷ trước. Ông Nội cũng khóc. Khi tôi hỏi, Ông cười: "Đến bây giờ, Nội mới được minh oan. Không còn mang cái tội vì lấy Ông mà Bà không được trở lại nhà thờ."
 
Ngày tôi chính thức trở thành con cái Chúa cũng là ngày Bà Nội được quay về với Người. Lúc ấy tôi mới hiểu vì sao trước đó bố mẹ anh Quốc chưa cho tôi gọi họ là "Bố Mẹ". Họ đã giữ vinh dự ấy cho ngày tôi đón nhận Bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, để từ giây phút ấy, tôi được gọi hai tiếng Bố Mẹ trọn vẹn, yêu thương.
 
Khi viết lại tất cả, tôi biết mình chưa bao giờ chỉ viết cho riêng mình. Mỗi kỷ niệm về Ông Bà, về tuổi thơ, tuổi trẻ, rồi mùa đức tin, mùa xa xứ, mùa đoàn tụ… đều như một mạch máu nuôi lớn gốc rễ tôi mang theo.
 
Đời người rồi sẽ qua, những mùa đông Buffalo cũng tan vào nắng tháng Năm, như Bà Nội từng dặn: "Ráng học, để sau này có tương lai nghe con." Tôi đã học, đã lớn, đã đi qua bao đổi thay, nhưng mỗi khi khép mắt lại, tôi vẫn nghe tiếng Bà Nội răn, bàn tay Ông Nội xoa đầu, nhớ chén cháo vịt nóng hổi, giọng hát vọng cổ buồn mà ấm áp tình người.
 
Tôi mong lũ con tôi, rồi con của con tôi, mai này đọc lại cũng sẽ thấy phần phúc mình được hưởng: một chút tiếng Việt, một lời ru, một hình bóng gia đình. Khi con người ta còn giữ được chút gì cũ kỹ cho mình, thì dù ở đâu, Buffalo xa xôi lạnh lẽo, Cali nắng ấm, hay bất cứ chân trời nào, quê nhà vẫn còn đó, trong lòng, trong ký ức, trong máu thịt.
 
Và dù cuộc sống có kéo ta đi bao xa, thì mỗi lần nhớ về Ông Bà, về tô cháo vịt thơm ngon, về sân bay tiễn đưa, về con đường Elmwood mùa lá phong rụng vàng, ta vẫn tìm được một góc bình yên để tựa đầu, chắp tay cảm tạ, để biết mình chưa hề lạc lõng.
 
Chỉ cần trong mỗi đứa con cháu vẫn còn một sợi chỉ nhỏ nối về gốc rễ yêu thương ấy, thì có đi đâu, cũng không lạc mất nhau.
 
Xin giữ tiếng Bà trong gió sớm,
Để cháu con còn nhớ lối về.
 
 
Sapy Nguyễn Văn Hưởng và Nguyễn Thị Lan Chi
 
 
 
 
 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 107,157
Tôi từng được làm quen với ngành điện toán từ thuở người ta còn dùng những chiếc máy lớn bằng cả căn phòng, đục lỗ trên những tấm bìa cứng để đưa chương trình được viết bởi những kỹ sư lập trình vào máy mà hãng IBM từng xây dựng cho công ty điện lực tại Saigon. Hơn ba mươi năm làm kỹ sư, tôi đã chứng kiến bao cuộc đổi thay: từ thời mainframe (máy tính chủ), qua personal computer (máy điện toán cá nhân), đến Internet (mạng điện toán toàn cầu), rồi smartphone (điện thoại thông minh). Nhưng có lẽ chưa bao giờ tôi thấy một làn sóng nào mạnh mẽ, nhanh chóng và sâu rộng như làn sóng Trí Tuệ Nhân Tạo - Artificial Intelligence, thường gọi tắt là AI.
Tôi bắt đầu để ý đến AI không phải bằng một bài báo khoa học hay một buổi hội thảo hoành tráng. Mọi thứ đến rất tình cờ. Một tối, tôi cần viết bản tóm tắt công việc, nhưng đầu óc rối tung. Người bạn ngồi cạnh bảo: “Thử hỏi AI xem, biết đâu giúp được.” Tôi bán tín bán nghi, nhưng rồi vẫn gõ vài dòng vào một công cụ lạ lẫm. Kết quả trả về gọn gàng, súc tích và khá logic. Đó là lần đầu tôi cảm thấy AI giống như một người bạn biết trò chuyện, chứ không chỉ là một cỗ máy lạnh lùng.
Bức chân dung đen trắng không màu mè hoa mỹ của người phụ nữ, trong ngàn vạn phụ nữ vợ của lính, thời đất nước ngã nghiêng, họ đã chiến đấu, không súng, không đạn, không huy chương, không khen thưởng, tất cả cho chồng, lót đường cho con bước lên, để rồi, kết thúc như một vở hài kịch. Được gặp lại chị, tôi vui mừng ôm chặt vai, vào sáng thứ Bảy, tại tiền đường nhà thờ các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam, thuộc Tổng giáo phận Seattle, trước thánh lễ Hôn Phối của người cháu gái gọi tôi bằng Dì, còn Chị, bên họ nhà trai. Tôi hỏi: - Chị lên Oregon mấy ngày rồi, anh đâu hả chị? Để em tới chào anh một tiếng. Chị trả lời: - Ờ! Ờ! Anh không có đây, vào nhà thờ đã....
Nhớ lại 50 năm trước, một điều dĩ nhiên là thế giới không phải như ngày hôm nay, nước Mỹ không phải như ngày hôm nay và người Việt ở Mỹ hay ở khắp các nơi cũng không hẳn là người Việt ngày hôm nay. Trong thời gian ấy, ít nhất hai thế hệ mới đã ra đời. Nhớ lại 50 năm trước, đêm cuối cùng, một phép lạ đã đưa chúng tôi lọt được vào quân cảng Saigon và trèo lên được chiếc chiến hạm cuối cùng đang nằm ụ, bỏ nước ra đi. Những ngày dài chen chúc nhau trong một con tầu chết máy trôi trên biển mãi mới đến được đảo Guam. Những ngày lang bạt, tất tưởi rời trại này qua trại khác, cuối cùng được đưa vào vào đất liền, và tạm trú tại Camp Pendleton trại Thủy Quân Lục Chiến miền Nam Cali. Trại trải dài hàng cây số, với hàng trăm căn lều vải đón nhận hàng trăm ngàn người tị nạn.
Ở xứ Bắc Mỹ này chúng ta không lạ gì các bảng hiệu ở một số cửa hàng “Open 24 hours” nghĩa là mở cửa cả ngày lẫn đêm. Nhưng cũng chưa rõ nghĩa lắm, bởi sẽ có người cắc cớ hỏi “24 hours nhưng có ngày nào nghỉ không”, thế là có ngay các tiệm “24/7” tức là mở cửa 24 giờ một ngày và 7 ngày trong tuần. Vẫn chưa hết, có lần ở Arlington, Texas thăm gia đình, tôi đã thấy một tiệm Walmart rộng lớn bề thế, khách ra vào tấp nập, dĩ nhiên là mở cửa 24 hours, với tấm bảng thật to và hàng chữ đầy kiêu hãnh: “WE NEVER CLOSED”, vậy là khỏi có ai thắc mắc suy nghĩ cho mệt đầu mệt óc! Tháng 8/2021 tôi bay qua Arlington dự đám tang của Ba. Tối hôm đó, khoảng hơn 10 pm, tôi cần một món đồ, nhưng các cửa tiệm khác đều đã đóng cửa, tôi chợt nhớ đến Walmart và nói với anh tôi: - Ôi, may quá, còn tiệm Walmart “never closed”, chúng ta hãy đến đó! Anh cười: - Hồi năm 2020, khi dịch Covid đến cao điểm thì tiệm đó đã phải đóng cửa cuối tuần, còn hàng ngày chỉ mở đến 10 pm,...
Bao nhiêu năm qua, ông Lân vẫn giữ lời nguyền: “Sống để bụng, chết mang theo” về một chuyện tình. Nhưng bước sang tuổi tám mươi, lòng ông day dứt… nếu không nói ra - một mai qua đời - sẽ không có ai biết được nỗi lòng tha thiết của ông về một mối tình thật đẹp nhưng đã kết thúc trong thương cảm - khiến hai kẻ yêu nhau cùng im lặng và dấu kín trong tim một nỗi niềm. Thế là, ông không còn giữ được lời nguyền - ông viết! Ông viết ra nỗi niềm chưa tỏ cùng ai như một cách để trải lòng… Từ lâu, ông nghe nói người ấy đi tu và đã khấn trọn đời - nguyện tận hiến tuổi thanh xuân và cuộc sống của mình để phụng sự Chúa. Bây giờ, người nữ tu ấy đã vào tuổi bảy mươi lăm, đang tu dưỡng trong một dòng tu nào đó ở Hoa Kỳ. Ông không có ý tìm gặp, nhưng nhưng mong tình cờ người nữ tu ấy đọc được truyện ngắn này mà thấy lòng xao xuyến, rồi san sẻ chút lòng kính yêu Thiên Chúa cho mối tình đầu thơ mộng… Thế là ông mãn nguyện.
Thời kỳ còn học trung học ở Việt Nam, qua sách vở tôi đã biết đến cây cầu Golden Gate Bridge – cầu Cổng Vàng - là cây cầu treo dài nhất thế giới nối thành phố San Francisco của tiểu bang California đến quận Marin xuyên qua biển Thái Bình Dương. Cây cầu là một trong những biểu tượng của San Francisco và Hoa Kỳ được quốc tế công nhận là một trong những kỳ quan thế giới hiện đại. Tôi đã ao ước được một lần đặt chân trên cầu này và tự tay chụp được bức ảnh đẹp của nó.
Vừa nhận được từ Báo Việt Báo, thư mời về tham dự lễ phát thưởng ”Viết Về Nước Mỹ” năm thứ 25 (2024-2025) được tổ chức tại Nam Cali vào ngày 30-11-2025, tôi cảm thấy thật vui vì lại có dịp đi Cali để thăm người chị và các cháu, đồng thời gặp lại một số bạn bè trước đây cùng chung lớp ở Trường TH Gia-Long và Trường SP Sài gon. Ngoài việc tham dự lễ phát thưởng VVNM, tôi cũng dự định đi thăm một vài thắng cảnh ở Cali mà trước đây tôi chưa hề biết đến. Tôi và con gái book vé xong và hành lý cũng đã sắp xếp gọn gàng, chỉ chờ đến ngày, mẹ con tôi sẽ làm một cuộc du lịch ngắn nhưng tôi tin chắc rằng trên cả tuyệt vời.
Người Việt Nam chúng ta ai cũng tự hào về phở. Trong gần 200 nước trên thế giới, chỉ có trên mười quốc gia là có những món ăn nổi tiếng ai cũng biết. Người Nhật thì có sushi. Đại Hàn thì có kimchi. Ý Đại Lợi thì có món pizza. Nói đến Việt Nam là cả thế giới biết món phở. Khi người Việt Nam mới qua Mỹ còn dịch phở thành “beef noodle” cho người bản xứ hiểu. Bây giờ thì cứ nói phở là ai cũng biết nó là món gì. Tuy phở cho chúng ta niềm tự hào này, tôi ước gì người Việt Nam mình nâng món ăn dân tộc này lên một tầm cao mới để chúng ta có thể ngẩng đầu cao hơn nữa. Sau mười năm “khoái ăn sang” (sáng ăn khoai) từ năm 1975, tôi điểm tâm bằng phở mỗi ngày từ năm 1985 cho đến khi rời Việt Nam để đi định cư tại Mỹ vào năm 1991. Trong khu Kiến thiết, quận Phú Nhuận, nơi tôi ở, có ba quán phở gần nhau và cả ba quán đều bán phở bò. Tôi cứ xoay tua ăn sáng tại ba quán phở này. Năm 1988, có một quán phở gà mới mở ở quận ba, đối diện với nhà thờ Vườn xoài trên đường Lê Văn Sỹ (Trương Minh Giảng cũ)
Chúng tôi rời San Jose khi sương sớm còn bám trên hàng cây hai bên đường, lá rung nhẹ trong gió như vẫy chào một ngày rong chơi mới. Ở tuổi 74, mỗi chuyến đi trở thành một món quà-không ồn ào, không kế hoạch rườm rà, chỉ là cuộc hẹn với đất trời và với chính những cảm xúc đã từng tưởng bị thời gian làm lắng lại. Mỗi chuyến đi là một dịp tự thưởng, một sự trân quý dành cho thời gian vẫn còn cho phép hai vợ chồng già bước ra khỏi cuộc sống quen thuộc thường ngày. Napa Valley, vùng đất của nho, rượu vang, nắng vàng và triền đồi xanh ngát chờ đón chúng tôi bằng sự nhẹ nhàng ấm áp rất riêng của nó.
Nhạc sĩ Cung Tiến