Hôm nay,  

Ơn Người

25/11/202500:00:00(Xem: 1305)
TG Sapy Nguyễn Văn Hưởng
TG Sapy Nguyễn Văn Hưởng
 
Tác giả là cư dân San Diego, đã hai lần thắng giải Viết Về Nước Mỹ. Năm 2001, với bài "Hoa Ve Chai", ông nhận giải danh dự. Ba năm sau, với bài viết "Giọt Nước Mắt," kể về Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam tại tiểu bang New Jersey do một kiến trúc sư Việt Nam vẽ kiểu, ông nhận giải chung kết Viết Về Nước Mỹ 2004. Ông tiếp tục viết bài và tham gia sinh hoạt giải thưởng VVNM hàng năm. Mùa lễ Tạ Ơn năm nay, tác giả gửi đến Viết Về Nước Mỹ một loạt 5 bài bút ký thấm đậm tình người từ trong gia đình đến những người thân quen của mình. Sau đây là bài thứ nhất “Ơn Người”.
 
***
 
Thật khó ngờ rằng, bước vào tuổi nghỉ hưu, tôi vẫn còn dịp lo liệu cho tuổi già của bố mẹ. Chính trong những ngày ấy, tôi bắt đầu nghĩ về tuổi già, không của ai khác mà của chính mình. Khi va chạm với thực tế, tôi thấy hình bóng tương lai của mình trong từng chi tiết nhỏ: nào khó khăn lúc bước vào trong xe, nào không thể tự mặc cho mình manh quần tấm áo.

Tôi là con cả trong một gia tộc đông anh em. Dù đã sống trên đất Mỹ lâu hơn khoảng gần ba mươi năm so với thời gian tôi từng sinh sống ở quê nhà, tôi vẫn giữ lối nghĩ của người Việt: phận làm con là phải chăm sóc cha mẹ lúc xế chiều, như một phần máu thịt, chẳng cần ai nhắc. Có lúc đứng một mình, tôi tự hỏi rằng đã sẵn sàng cho vai trò đó đến đâu, và câu trả lời luôn dẫn tôi về với trách nhiệm không thể thoái thác. Dẫu tôi có đến bảy đứa em và mấy chục đứa cháu, tôi vẫn coi phần chính của bổn phận ấy thuộc về mình.

Cũng như nhiều người Việt ở nơi đây, bố mẹ tôi thường bóng gió nhắc về nỗi sợ bị đưa vào "nhà già". Tôi hiểu sự ám ảnh ấy: phần đông người lớn tuổi gốc Việt không quen tiếng Anh, ít hợp với thức ăn bản xứ, và hơn hết họ mong được dưỡng bệnh tại nhà, nằm trên chiếc giường quen thuộc giữa hơi ấm con cháu.

Tôi vẫn thắc mắc tại sao người Việt gọi nursing home là "nhà già" hay "viện dưỡng lão", hai cách gọi nghe quen mà chua chát, như chứa một nỗi buồn, một hàm ý bị bỏ rơi. Có lẽ trong ký ức nhiều người, nơi ấy không gắn với hình ảnh yêu thương mà chỉ là trạm dừng cuối đời: vắng con cháu, vắng tiếng cười thân quen. Nghe bố mẹ nói đến điều đó, lòng tôi xót xa, vừa muốn tìm cách giữ ông bà ở nhà, vừa lo rằng đôi khi người nhà cũng bất lực trước những nhu cầu chăm sóc chuyên môn. Tôi hiểu rằng điều bố mẹ cần không chỉ là chỗ ở, mà là phẩm giá, là kỷ niệm và những gì thân thuộc thường dùng.
Thật ra, ở Mỹ nursing home không chỉ dành cho người già, mà cho bất kỳ ai cần chăm sóc y tế dài hạn, đó là một phần trong hệ thống chăm sóc sức khỏe chuyên nghiệp. Tuy nhiên khác biệt văn hóa và quan niệm về sống chết khiến nhiều người Việt giữ khoảng cách với nơi ấy. Vì vậy, tôi xin gọi đúng tên: nursing home.

Mỗi lần nghĩ đến tuổi già của bố mẹ, tôi lại nhớ đến Dick, người bạn Mỹ gốc Mexico từng làm chung hãng với tôi. Dick thường kể về mẹ già của anh: bà không thể tự lo suốt hơn mười năm cuối đời. Thay vì đưa bà vào nursing home, các anh chị em quyết định thuê hai phụ nữ người Mễ thay phiên nhau đến nhà chăm sóc cho bà cả ngày lẫn đêm. Con cái, cháu chắt ai rảnh thì ghé thăm, ai nấy đều yên tâm vì bà luôn có người kề cận. Nghe Dick kể, trong tôi hiện lên hình ảnh những bàn tay quen thuộc chăm sóc, tiếng Tây Ban Nha thì thầm và mùi bột ngô trên bếp, một khung cảnh ấm áp khác hẳn với chiếc giường lạnh lẽo cô đơn nơi nursing home.

Từ chuyện của Dick, tôi thầm nghĩ: nếu đến lúc bố mẹ tôi cần, tôi cũng sẽ làm như vậy. Tôi tự hứa với lòng: tôi sẽ cố gắng giữ bố mẹ ở nhà, dù phải sắp xếp lại cuộc sống hay nhờ đến sự giúp đỡ chuyên môn, để ông bà được quanh quẩn bên gia đình, bên cạnh những gì thân thuộc nhất.

*

Và rồi, ngày ấy cũng đến. Sau buổi tiệc mừng thượng thọ, bố tôi bỗng lên cơn đau tim, phải đưa vào cấp cứu. Gần hai tuần sau, từ phòng hồi sức ông được chuyển sang nursing home để phục hồi chức năng. Sau hơn ba tháng, tuy đã đi lại được, nhưng trí nhớ suy giảm rõ rệt và ông không còn tự lo vệ sinh cá nhân được.

May thay, mẹ tôi vẫn khỏe, cố gắng chăm sóc chồng. Nhưng ai cũng hiểu bà không thể gồng gánh mãi một mình. Suốt ba tháng luân phiên vào nursing home chăm bố, anh em con cháu ai nấy đều thấm mệt. Khi bố được cho về nhà, mọi người đồng thuận phải tìm người giúp việc toàn thời gian.
Tôi đứng ra đăng báo tìm người, nhưng quyền quyết định hoàn toàn thuộc về mẹ tôi. Sau vài lần thay người, cuối cùng mẹ tôi mướn được một chị tên Trần Thị Ái Hoa. Chị không chỉ có cái tên đẹp, mà còn là người đoan trang, khuôn mặt sáng, giọng nói nhẹ nhàng, chừng mực. Sau này tôi mới biết chồng đầu của chị từng là bác sĩ quân y trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tử trận không lâu sau biến cố 1963. Từ đó đời chị gập ghềnh, nhưng vẫn giữ phẩm hạnh và lòng kiên nhẫn đáng quý.

Lần đầu gặp chị, tôi thấy tóc chị còn đen nhánh, áo quần tươm tất, cử chỉ nghiêm trang; nhưng chỉ hơn một tháng sau, tôi sững sờ khi thấy tóc chị bạc trắng như sương. Lúc ấy chị mới thú thật: chị đã gần bảy mươi. Khi đến xin việc, sợ bị chê già, chị đã nhuộm tóc và khai ít tuổi hơn. Chị còn giấu việc mình theo đạo Công giáo, e ngại bố mẹ tôi, vốn theo tín ngưỡng khác, có thể ngại ngùng.

Dần dà, tôi hiểu thêm hoàn cảnh chị. Chị sang Mỹ theo diện du lịch, làm đủ nghề: trông nhà, nấu bếp, chăm người già, từng đi qua nhiều thành phố và nhiều tiểu bang; có nơi không hợp, có nơi bị đối xử tệ. Về đến San Diego, chị nương nhờ người anh họ, rồi đọc tin tìm người của gia đình tôi và đến xin việc. Mẹ tôi nhận ngay, chị mừng đến rơi nước mắt.

Ngay lần gặp đầu, tôi có một linh cảm khó tả: nếu chị Hoa về sống với bố mẹ tôi, đó sẽ là sự kết hợp tốt đẹp. Một người cần một mái ấm, một gia đình cần một tấm lòng. Chị cần chốn nương thân, một căn phòng riêng và góc yên bình để an trú tuổi già. Căn hộ của bố mẹ tôi dư ra đúng một phòng ngủ có nhà tắm riêng. Chị là người ngoan đạo, lại cách thánh đường có lễ tiếng Việt vài trăm thước, vừa đủ để chị thong thả đi bộ đến dự lễ sớm chiều.
Gia đình chúng tôi cần một người luôn túc trực trong nhà, không chỉ chăm sóc bố mà còn đỡ đần mẹ trong bếp núc, dọn dẹp. Ngay từ những ngày đầu, chị xin phép được gọi bố mẹ tôi là Bố và Mẹ, và xin được coi như con trong nhà. Tôi nghe chị gọi hai tiếng ấy, không khách sáo, không gượng gạo, chỉ thấy thân thuộc, tự nhiên và đầy tình cảm.

Việc khó khăn và tế nhị nhất là chuyện vệ sinh cá nhân; đó là điều rất nhạy cảm mà ít ai chịu làm nếu không thật lòng thương. Thời gian trôi, sức khỏe bố dần khá hơn: ông ăn uống được, đi lại quanh nhà, nhưng vẫn phải mang tã và chưa thể tự lo vệ sinh. Thấy chồng khỏe lên, mẹ tôi bắt đầu có ý định giảm bớt tiền công cho chị. Một chiều, vợ tôi tìm chị để nói riêng:

- Chị đừng lo. Mẹ trả bao nhiêu, chị cứ nhận. Phần còn lại, các em sẽ bù riêng cho chị.

Nói những lời ấy, lòng tôi vui vì chị sẽ không phải lo lắng chuyện tiền bạc trong những ngày tuổi già.

*

Khi quyết định sang Mỹ, chị Hoa để lại sau lưng một gánh lo không nhỏ: người mẹ già ngoài chín mươi và cô con gái sống đơn độc, chật vật nuôi hai đứa con dù chúng đã quá tuổi trưởng thành. Cũng như nhiều gia đình Việt có thân nhân ở xứ người, người nhà ít khi hỏi han chị sống ra sao, làm nghề gì, họ mặc nhiên nghĩ rằng ở bển thì dễ kiếm tiền, như nhặt lá mùa thu.

Mỗi lá thư nhà gửi sang thường kèm theo một danh sách: lúc xin thuốc bổ, lúc nhờ mua điện thoại, máy đo huyết áp, áo ấm, đồng hồ… Có khi chẳng xin gì, chỉ vỏn vẹn mấy chữ: "Ở đây khổ quá, má à!" Chị làm được bao nhiêu đều chắt chiu gửi về: phần cho mẹ, phần cho con và hai đứa cháu ngoại. Ngoài ra, chị còn đóng góp cho giáo hội Việt Nam, cho giáo xứ quê nhà, nơi in đậm dấu chân tuổi thơ và biết bao kỷ niệm. Mỗi khi quê nhà gặp thiên tai, lũ lụt, chị lại nhờ người quen quyên góp, gửi về cho bà con khốn khó. Nghe những việc chị làm, tôi cảm nhận một tấm lòng luôn hướng về nguồn cội. Trong những món quà gửi về có cả nỗi nhớ, cả niềm hy vọng chị muốn giữ cho gia đình mình.

Nhắc đến quê, mắt chị thường đỏ hoe. Có khi đang kể, chị bỗng lặng thinh, đưa tay quệt vội giọt nước mắt. Tôi hiểu đó không chỉ là nỗi nhớ mà còn là nỗi xót xa cho những thân phận gần gũi mà chị không thể ở bên. Một chiều cuối tuần, tôi đưa cả nhà đi dạo công viên Balboa. Trong nắng nhạt, gió nhẹ, hoa nở rực bên lối đi, thấy chị đứng lặng, quay mặt lau nước mắt, vợ tôi hỏi:

- Sao chị khóc?

Chị nhỏ nhẹ:

- Trời ơi, xứ người ta đẹp quá. Không biết chừng nào nước mình mới được như vầy?

Câu nói như một tiếng thở dài. Từ đó, tôi hiểu vì sao, dù sống trong căn phòng nhỏ nơi đất khách, với công việc chẳng nhẹ nhàng gì, chị vẫn chan chứa tình thương và hy vọng. Những khoảnh khắc ấy khiến tôi thấy mình có một trách nhiệm mới: chăm sóc chị như người nhà, vì chị đã chọn gắn bó cuộc đời mình với gia đình chúng tôi.

Thay vì nhắc chị phải thương yêu và chăm sóc bố mẹ tôi, chính tôi mới cần học cách thương và lo cho chị. Vợ chồng tôi đối đãi với chị bằng tất cả lòng tin, không dè dặt, không toan tính. Nhiều buổi trưa chiều đi dạo, tôi thấy chị lặng lẽ đi sau, mắt không rời bố mẹ tôi, như sợ ông bà trượt chân, sẵn sàng đưa tay ra đỡ. Chị ít nói, nhưng trong lòng chị, ông bà đã thành cha mẹ ruột tự thuở nào.

*

Ông Minh, anh bạn thân, thấy vợ chồng tôi tất bật lo cho bố mẹ, có lần khuyên:

- Ông bà có tám người con. Trừ một người ở xa, còn lại bảy đứa đều gần. Sao chú thím không chia nhau, mỗi người phụ trách một ngày? Vừa công bằng, vừa giúp chú thím đỡ vất vả.

Tôi chỉ cười:

- Tụi em nghỉ hưu rồi, thời gian rảnh rỗi nhiều hơn. Mấy đứa em còn bận con cái, cơm áo, công việc, lo cho nhà mình chưa xuể, làm sao ngồi cả buổi ở nursing home trông bố em được.

Nói vậy cho xuôi chuyện, chứ tôi nghĩ khác. Chăm sóc cha mẹ không phải là chuyện chia phần cho công bằng, càng không thể tính thiệt hơn. Đó là việc của trái tim, của tình cảm chảy từ huyết quản, chẳng thể đo đếm bằng giờ giấc hay công sức. Tôi không đòi hỏi gì ở các em, cũng không trách ai, mỗi người có hoàn cảnh và nhịp sống riêng mà người ngoài khó hiểu hết. Tôi chỉ âm thầm làm phần mình, tận hưởng những ngày còn được nhìn thấy ông bà khi tuổi đã xế chiều. Với tôi đó là một ân phước không thể tính toán, so bì được.

*

Một lần, khi tôi đang ghé thăm một người bạn, ở cách nhà bố mẹ vài dặm, điện thoại reo dồn dập. Vừa áp máy vào tai, đã nghe giọng vợ tôi hốt hoảng:

- Anh ơi, bố trốn khỏi nhà hơn mười lăm phút rồi!

Tôi như chết lặng, lao ra xe phóng ngay về. Vừa tới nơi, thấy chị Hoa đứng thẫn thờ ở cửa, mặt tái nhợt. Nhận ra tôi, chị òa lên khóc:

- Thấy bố ngủ say, chị tranh thủ giặt đồ. Ai ngờ chỉ mới vài phút là ông mở cửa lẻn đi mất…

Mẹ tôi run run nói: 

- Mẹ với chị Hoa và mấy người hàng xóm tìm khắp nơi mà không thấy…

Tôi đưa mẹ và chị Hoa lên xe, bắt đầu tìm kiếm. Tôi lái, mẹ nhìn bên trái, chị Hoa nhìn bên phải. Xe chạy hết con dốc này sang con đường kia, vòng quanh khu xóm. Mẹ không ngừng nhắc:

- Hồi sáng bố đi dọc khúc này… Hôm qua thì ghé coi mấy bụi hồng chỗ kia…

Chạy theo hướng mẹ chỉ đến mấy lần vẫn không thấy. Lo lắng cứ quấn chặt đầu óc, mọi thứ xung quanh chợt lặng thinh.

Lòng tôi nóng như lửa đốt. Đây là lần đầu tiên tôi gặp cảnh như vậy: một cụ già lẫn trí nhớ, lang thang ngoài đường, không biết mình là ai, chẳng biết đi về đâu. Tôi quay sang hỏi mẹ:

- Hay mình về nhà, gọi 911 đi mẹ?

Mẹ gật đầu. Về đến nhà, tôi gọi liền tức khắc. Nghe tôi trình bày, tổng đài viên trả lời ngay rằng họ sẽ cử người hỗ trợ. Độ mười phút sau, ba xe cảnh sát hú còi tới. Sau khi hỏi kỹ lưỡng nào: tên, tuổi, đặc điểm nhận dạng, quần áo ông mặc khi rời nhà, họ tỏa ra khắp khu vực, kiểm tra từng ngõ ngách, gõ cửa hàng xóm. Mọi hành động nhanh nhẹn, chuyên nghiệp.

Chị Hoa đứng ngồi không yên, hết nhìn đồng hồ lại liếc ra cửa. Mỗi lần có tiếng động lạ hay dáng người lướt qua, chị khựng lại rồi thở dài. Lâu lâu chị nhìn vợ chồng tôi, lẩm bẩm:

- Bố đi đúng một tiếng mười lăm phút rồi đó cậu mợ ơi…

Rồi chị bước vào phòng, quỳ trước tượng Đức Mẹ Maria, chắp tay khấn nguyện. Khi trở ra, chị ngồi xuống bên mẹ tôi, vòng tay ôm bà:

- Sao bố đi lâu quá vậy mẹ ơi… Không biết có khát không, có ai cho uống nước không? Hay là… bố đang ngồi hoặc nằm đâu đó, không ai hay biết?

Chị lại khẩn khoản:

- Cậu chở chị đi tìm bố nữa. Chị nhớ rõ mấy đoạn đường bố thích đi lắm… luôn cả mấy nhánh hoa ven đường…

Tôi gật đầu, cùng chị lên đường thêm một lần, nhưng suốt chặng quẩn quanh khu phố vẫn không thấy bóng dáng bố tôi. Mỗi phút trôi qua như kéo dài vô tận; tôi chỉ mong thấy bóng dáng quen thuộc đang lầm lũi bước trên đường.

*

Sau hơn cả giờ tìm khắp khu phố mà vẫn không thấy bóng dáng bố, hai nhân viên cảnh sát quay trở lại. Một người đẩy cánh cửa lưới bước nhanh vào nhà, người kia theo sau dắt một con chó nghiệp vụ cao lớn, lông xám, đôi mắt sáng rực. Vừa thấy tôi đến, viên cảnh sát nói ngay:

- Thưa ông, vẫn chưa tìm thấy ông cụ. Giờ chúng tôi sẽ dùng chó nghiệp vụ. Xin ông lấy ra mấy món đồ của ông cụ thường dùng, như quần áo, khăn hoặc bất cứ thứ gì có mùi quen thuộc.

Tôi vừa dịch lại xong, chị Hoa tức tốc bước vội vào phòng. Chỉ lát sau chị trở ra, tay ôm chiếc áo len và cái quần ngủ cũ của bố, run run chìa ra:

- Đây… áo bố mặc hôm qua… quần này sáng nay chị mới thay cho bố…

Giọng chị nghèn nghẹn, tay nắm chặt mớ quần áo như ôm vật quý giá. Một viên cảnh sát nhận lấy chiếc áo, cúi xuống đưa sát mũi con chó; con vật rít khẽ, vểnh tai rồi bắt đầu đánh hơi quanh phòng.

Viên cảnh sát trấn an:

- Chúng tôi đang cho chó bắt mùi. Giờ chỉ còn trông vào nó dẫn đường.

Chị Hoa nép sang một bên, hai tay đan chặt. Trước khi rời đi, viên cảnh sát còn nói thêm:

- Nếu chó nghiệp vụ không tìm được, chúng tôi sẽ xin trực thăng hỗ trợ.

Tôi lặng người. Trước mắt tôi, hai viên cảnh sát Mỹ, một con chó nghiệp vụ, một người phụ nữ Việt tóc pha sương, và cả căn nhà đang nín thở trong lo âu. Tất cả vì một ông cụ gốc Việt, đã già, đã lẫn, đang đi lạc giữa một thành phố rộng lớn. Tôi dõi theo bóng họ khuất dần ngoài ngõ, cổ họng nghẹn lại. Không ngờ để tìm một người già lại quan trọng đến như vậy. Lòng tôi dâng lên một niềm biết ơn sâu sắc đối với những con người đang đứng trước mặt tôi. Tôi thấy mình mang một món nợ ân tình quá lớn với đất nước này.

Cánh cửa khép lại; căn nhà yên ắng nhưng không bình yên, mà là thứ lặng ngắt căng thẳng. Chị Hoa đi ra đi vào, mắt không rời chiếc đồng hồ treo tường; mỗi tiếng "tích tắc" như đè nặng lên từng phút chờ đợi. Chốc chốc chị khựng giữa phòng, môi mấp máy lời cầu nguyện.

Bất chợt, điện thoại tôi rung. Là cảnh sát, giọng ông ta reo vui:

- Chúng tôi đã tìm thấy ông cụ. Con chó đã lần ra dấu, cách nhà hơn ba dặm. Ông cụ lang thang một mình, không hề hấn gì. Chúng tôi sẽ đưa ông về trong vòng mười phút.

Tôi buông điện thoại, nghẹn giọng báo tin. Cả nhà như vỡ òa. Mẹ chắp tay ngước lên trần, lẩm bẩm tạ ơn. Chị Hoa vội chạy vào phòng, quỳ rạp xuống sàn; tượng Đức Mẹ trong ánh sáng lờ mờ như đang lắng nghe tiếng khấn của một đứa con đầy niềm tin.

Chẳng bao lâu sau, viên cảnh sát trẻ dìu bố tôi vào hành lang. Dáng ông lom khom, bước chậm nhưng tỉnh táo. Vừa thấy ông, chị Hoa lao ra, quỳ sụp trước viên cảnh sát, chắp tay lạy lia lịa:

- Con cám ơn ông cảnh sát. Con cám ơn ông đã cứu bố con.

Viên cảnh sát hơi khựng, nhìn ngơ ngác; tôi bước tới giải thích:

- Xin lỗi anh, đây là cách người Việt tạ ơn người giúp đỡ. Chị xúc động quá.

Anh gật đầu, mỉm cười, dìu bố tôi đến ghế salon. Bố vừa đặt người xuống, chị Hoa ngồi bệt dưới chân, bóp nhẹ đũng quần ông rồi lo lắng hỏi:

- Bố đi gần ba tiếng đồng hồ mà không có đái sao bố?

Tôi chết lặng. Từng cử chỉ của chị, từ quỳ tạ ơn cảnh sát đến chăm sóc tỉ mỉ cho bố, khiến tôi không nói nên lời. Trong khoảnh khắc đó, lòng tôi vừa trào dâng sự biết ơn vừa chua xót vì nhận ra có những việc người khác đang làm thay cho mình. Chị Hoa đã làm tất cả những việc lẽ ra một người con trưởng phải làm: chờ đợi, tìm kiếm, cầu nguyện, chăm sóc từng ly từng tí.

Vợ chồng tôi nhiều lần bàn bạc: phải làm gì để đền đáp tấm lòng chị. Có nên tăng lương? Nhưng rồi tự hỏi tiền bạc có phải điều thiết thực nhất cho chị? Tôi hiểu lẽ sống của chị là vì người khác; bao nhiêu công khó chị đều gửi về quê, phần cho mẹ già, phần cho con và hai đứa cháu ngoại. Cuối cùng, chúng tôi quyết định một phương án thực tế và lâu dài: giữ lại phần tiền công trả thêm mỗi tháng cho chị, tính luôn từ đầu năm, để trao lại vào ngày chị không còn làm cho bố tôi nữa.

Hôm ấy, vợ tôi nhẹ nhàng nói:

- Chị an tâm, khi nào chị nghỉ hẳn, tụi em sẽ đưa lại đầy đủ. Không phải để ép chị làm mãi; nghỉ lúc nào là quyền của chị. Tụi em chỉ mong chị yên tâm mà lo cho bố.

Chị Hoa ngơ ngác, mắt chớp nhanh:

- Sao cô chú lại cho chị nhiều thế?
Tôi chỉ mỉm cười. Thành thật mà nói, đó là tất cả những gì vợ chồng tôi có thể làm để bày tỏ lòng biết ơn, một sự đáp đền giản dị cho tấm lòng chị đã trao cho gia đình chúng tôi.

*

Rồi cũng đến ngày không ai mong muốn. Một buổi sáng như mọi khi, cả nhà ngồi ăn thì bố tôi bỗng đổ gục xuống bàn, đột quỵ. Mẹ tôi hốt hoảng gọi cấp cứu; xe đến rất nhanh, đưa ông vào bệnh viện. Tôi cũng chỉ biết đứng lặng yên nhìn cha mình nằm bất động, thoi thóp trên giường với dây nhợ giăng khắp thân người. Nhờ có chị, những ngày cuối đời của bố, con cháu đỡ vất vả nhiều. Không ai phải bỏ việc hay đảo lộn cuộc sống để túc trực liên tục bên giường bệnh. Khi có người nhà ở cạnh, chị nhẹ nhàng rút lui; khi vắng, chị lại ngồi kề bên ông, canh từng giấc ngủ, lau mặt, vuốt trán, trò chuyện vu vơ như đang nói với một người còn nghe, còn hiểu. Những cử chỉ ấy giản dị nhưng ấm áp hơn mọi lời an ủi.

Ngày bố tôi ra đi, giữa những người khóc tiễn đưa có lẽ chị Hoa khóc nhiều nhất, không phải vì bổn phận, mà vì tình thương âm thầm tích tụ qua từng bữa cơm, từng lần thay áo, tắm rửa, từng ngày sống bên ông như người thân ruột thịt. Nhìn chị ôm lấy bàn tay bố khi ông rời đi, tôi nhận ra tình thương không đo được bằng lời, chỉ bằng những hành động thầm lặng mà người ở lại sẽ nhớ mãi.

Từ dạo ấy, vợ chồng tôi không còn coi chị là người giúp việc nữa, mà xem chị như một người chị trong nhà. Phần tiền lương tăng, chị vẫn gửi lại, chân tình nói:

- Cô chú mà không thương giữ giúp chị, thì biết đưa cho ai?

Tôi cũng xin nói rõ rằng mọi chi phí chăm sóc bố mẹ đều có sự góp sức của từng đứa em trong gia đình. Nhờ vậy, tình nghĩa anh em vẫn bền chặt, và trong nỗi mất mát, chúng tôi tìm thấy nhau nhiều hơn.

*

Rồi cũng đến ngày chị Hoa gặp lại người bạn cũ, ông Lành, người đứng ra làm hôn thú trên danh nghĩa để chị đủ điều kiện hợp pháp ở lại Mỹ. Vợ chồng tôi tình nguyện ký bảo trợ tài chính. Mỗi lần gặp, chị đều rưng rưng cảm ơn; còn chúng tôi luôn nghĩ: gia đình mình mới là người mang ơn lớn nhất, vì chị đã tận tình thay chúng tôi chăm sóc bố suốt những năm cuối đời.

Chị có thẻ xanh, rồi nhập tịch, bắt đầu hưởng các quyền lợi an sinh dành cho người cao tuổi không có thu nhập. Chúng tôi mừng cho chị vì cuối cùng chị cũng tìm được chỗ đứng vững vàng nơi xứ người. Đáp lại ân nghĩa xưa, chị chuyển sang chăm sóc ông Lành khi đã già yếu. Chị tận tụy như từng dành cho bố tôi. Ông Lành mất trong bình an; các con ông cảm mến tấm lòng chị, xem chị như mẹ ruột và thường xuyên qua lại thăm nom.

Nghĩ đến thân phận một mình nơi đất khách, chị dặn vợ chồng tôi:

- Sau này chị có mệnh hệ gì, nhờ cô chú lo giùm tang lễ.

Chúng tôi đã hứa, lòng nhẹ như ký gửi một ân tình. Lời dặn ấy buộc tôi suy nghĩ về trách nhiệm mà chị đã trao gửi, như một sự tin tưởng lớn lao mà tôi cảm thấy luôn phải cưu mang.

Rồi dịch Covid ập đến. Con cái ông Lành năn nỉ chị ở yên trong nhà; mỗi tuần đôi ba lần họ mang thực phẩm để trước cửa rồi gọi chị ra lấy. Một sáng, chị gọi cho vợ tôi, giọng đầy hứng khởi:

- Hôm nay chị liều ra ngoài. Bịt mũi, bịt miệng, vô nhà thờ xưng tội, dự lễ. Xong ghé vào chỗ chuyển tiền, gửi ít cho con với hai đứa cháu ngoại. Cả năm trốn dịch, chưa gửi được đồng nào, lòng cứ canh cánh hoài. Giờ chị nhẹ nhõm lắm rồi.

Đó là cú điện thoại cuối cùng chị gọi cho nhà tôi. Vài ngày sau, xe cứu thương đưa chị vào bệnh viện. Covid cướp chị quá nhanh, khi những lời hứa vẫn còn dang dở. Tang lễ vợ chồng tôi dự định lo cho chị không thể thực hiện vì lệnh cách ly nghiêm ngặt; chúng tôi chỉ còn biết âm thầm lần chuỗi, cầu nguyện cho chị ra đi bình an. Tiền bạc và tro cốt chị để lại đã được con cháu ông Lành lần lượt đưa về quê hương.

Nhưng trong tim tôi, chị vẫn ở lại như một người chị lớn của gia đình vừa lặng lẽ đi về cõi vĩnh hằng. Mỗi khi thắp nén nhang trước bàn thờ bố, nhìn tấm ảnh người đã khuất, tôi lại nhớ mái tóc bạc trắng của chị, nhớ từng cử chỉ ân cần chị dành cho bố trong những ngày cuối đời. Những hình ảnh ấy không phai theo thời gian; chúng trở thành bài học lặng lẽ về lòng tử tế, một thứ tình thương không cần huyết thống nhưng bền bỉ đến cùng.

Chị Hoa ra đi, để lại cho tôi niềm biết ơn sâu sắc và một tấm gương sống: yêu thương bằng hành động, ở lại bằng tấm lòng, và cho những người ở lại một phúc lành khó quên.  
 
Sapy Nguyễn Văn Hưởng
 

Ý kiến bạn đọc
25/11/202516:07:53
Khách
Cám ơn tác giả viết về những tâm hồn cao thuợng.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> http://youtu.be/J5Gebk-OVBI
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tạo bài viết
Tổng số lượt xem bài: 493,221
Ngày 30 tháng 11 năm nay tôi lại có dịp về thành phố Santa Ana, California để lãnh giải thưởng Việt Báo Viết Về Nước Mỹ lần thứ hai. Lần trước cũng vào dịp lễ Thanksgiving năm 2023, tôi được trao giải danh dự với hai bài viết : “Joe và Những Con Bồ Câu” và bài “Giữ Cháu Ngoại”. Lần này với bài “Viết Văn Ở Mỹ” và bài “Xin Đừng Đẻ Nữa”. Cứ mỗi hai năm thì Việt Báo tổ chức trao giải một lần. Lần này là năm 2025, đánh dấu 50 năm người Việt tị nạn, cũng là năm thứ 25 từ ngày Việt Báo mở ra diễn đàn Viết Về Nước Mỹ vào dịp 30 tháng 4 năm 2000. Diễn đàn mở ra cho tất cả mọi người không phân biệt tuổi tác, già trẻ, trai gái, thành phần nghề nghiệp. Ai cũng có thể bày tỏ tâm tư, tình cảm, suy nghĩ qua ngòi bút, viết ra những trải nghiệm của bản thân, gia đình, người thân, bạn bè và những người có cùng hoàn cảnh trên con đường tìm đến nước Mỹ sau cái ngày 30 tháng 4 oan nghiệt năm 1975, cũng như bằng cách nào mà mỗi người hội nhập vào đời sống Mỹ và trở thành công dân Mỹ như ngày hôm nay.
Không có sách thì không có văn minh vì những khám phá chân lý không được lưu truyền hậu thế. Nghĩa là không có khoa học, lịch sử, kinh kệ, hoặc bất cứ kiến thức nào được ghi chép lại để làm nền cho những bước xây dựng văn minh. Vì thế, chương trình Việt Báo Viết Về Nước Mỹ (VVNM) rất giá trị và quan trọng cho hơn trăm triệu người Việt nói riêng và thế giới nói chung để soi thấu tâm tình lịch sử của hơn hai triệu người Mỹ gốc Việt, hơn năm triệu Việt Hải Ngoại, và hơn một trăm triệu Việt quê nhà.
Khi đọc thông báo kết quả cuộc thi lần thứ 25 do Việt Báo (VB) tổ chức với đề tài Viết về nước Mỹ (VVNM) có tên mình trên đó, tôi đã không tin vào mắt mình, phải đọc đến hai ba lần vì tôi chỉ là hàng xóm của Mỹ thôi; giải không cao nhưng tự an ủi “ vạn sự khởi đầu nan”, tuy vậy trong lòng có một cảm giác lâng lâng, được đứng vào hàng ngũ một trong 18 người thắng trận văn chương trên toàn thế giới, mà ai cũng đã rất nỗ lực, viết thật hay, thật giỏi dưới đủ góc nhìn cuộc sống suốt hai năm qua 2023-2025. Đây không phải là giải văn chương hải ngoại đầu tiên tôi nhận được, nhưng điều làm tôi ấn tượng nhất là ngày phát giải được tổ chức rất long trọng mà tôi tình cờ được tham dự qua livestream năm 2023...
Chiều thứ Năm, ngay sau bữa cơm sum họp nhân dịp Lễ Tạ Ơn cùng cậu con trai, vợ chồng tôi cùng cô con gái thu xếp hành lý chuẩn bị lên đường. Chúng tôi tạm biệt con trai trong sự lưu luyến quen thuộc của những gia đình có con lớn sống xa nhà; vừa tự hào vì con trưởng thành, lại vừa nghèn nghẹn vì những cuộc gặp gỡ luôn ngắn ngủi. Dịp này càng đặc biệt hơn khi chúng tôi phải chia tay sớm, bởi cậu bận học hành, không thể cùng chúng tôi tham dự chuyến du lịch kết hợp tham dự lễ trao giải Viết Về Nước Mỹ lần thứ 25, một sự kiện mà chúng tôi đã mong chờ và chuẩn bị từ lâu.
Hồi tháng Tám năm nay, khi Việt Báo mới thông báo những tác giả trúng giải VVNM (Viết Về Nước Mỹ) 2025, tôi liền gọi điện thoại khoe ông xã dù biết chàng đang làm việc. Chàng trả lời tỉnh bơ: - Cuộc thi này coi bộ …dễ quá hả em? Tôi chưng hửng: - Anh nói vậy nghĩa là sao? - Thì em dự thi ba mùa, 2021-2023, và năm nay 2025, cả ba mùa đều trúng giải, không dễ thì là gì? - Ủa? Ủa? Hello? Không biết chàng thờ ơ hay đang bận tiếp khách hàng đến tiệm mua thuốc mà chẳng thấy trả lời! Chẳng lẽ nào chàng chỉ nói đùa, và có ý vừa khen vừa … mỉa mai tôi?
Hôm qua tôi đi tham dự lễ trao giải Việt Báo Viết Về Nước Mỹ (VVNM) lần thứ 25. Vậy là đã tám năm từ khi tôi tham dự lễ trao giải VVNM lần trước và hai mươi ba năm từ lần đầu. Có nhiều thứ đã thay đổi và cũng còn nhiều cái vẫn còn nguyên như hai lần trước. Khách mời danh dự năm 2002 có nhạc sĩ Phạm Duy, tài tử Kiều Chinh, nhà thơ Du Tử Lê, nhà báo Đỗ Ngọc Yến của báo Người Việt. Trong những người này chỉ còn tài tử Kiều Chinh có mặt ngày hôm qua. Nếu tôi nhớ không lầm thì năm đó cũng là năm bà Trùng Quang được vinh danh là tác giả cao tuổi nhất (92). Năm đó có lẽ tôi là một trong hai tác giả trẻ tuổi nhất (29), người kia là Orchid Lâm Quỳnh (?). Hôm qua, tại lễ trao giải VVNM, tôi vẫn còn là một trong ba tác giả lãnh thưởng trẻ nhất. Vừa đậu xe xong, bước ra là thấy tác giả trẻ tuổi nhất, Võ Phú, đang đi bên cạnh. Võ Phú tuy là tác giả trẻ tuổi nhất ngày hôm qua nhưng lại là một trong những tác giả nhiều “tuổi VVNM” nhất vì đã tham gia từ năm 2004...
Cộng đồng người Việt khắp nơi đang đánh dấu năm thứ năm mươi sinh sống ở hải ngoại. Nửa thế kỷ – một chặng đường đủ dài để lớp người lưu vong trưởng thành, đủ lâu để một nền văn hoá vừa tiếp thu cái mới mà vẫn giữ vững căn cước cội nguồn. Chính từ sự giao hòa giữa quá khứ và hiện tại, giữa truyền thống Việt và văn hóa nơi xứ người, giữa gian truân và thành tựu, giải thưởng Viết Về Nước Mỹ ra đời như một nhịp cầu kết nối các thế hệ, một hành trình nhân văn bảo tồn tiếng Việt, lưu giữ ký ức, chia sẻ kinh nghiệm hội nhập và hướng đến tương lai vững vàng của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ sau 50 năm. Thành lập một phần tư thế kỷ trước, đúng ngày 30 tháng 4 năm 2000 – kỷ niệm 25 năm người Việt miền Nam phải bỏ xứ ra đi – giải thưởng Viết Về Nước Mỹ nhanh chóng trở thành diễn đàn gửi gắm tâm tư, tình cảm và kinh nghiệm hội nhập thực tế, qua hàng chục ngàn câu chuyện, hàng ngàn cuộc đời.
Không phải ngẫu nhiên mà Viết Về Nước Mỹ được nhà thơ Nguyên Sa gọi là “Lịch Sử Ngàn Người Viết.” Mà nếu tính cho đến ngày hôm nay, con số “ngàn” ấy chắc đã lên tới chục ngàn, trăm ngàn. Viết Về Nước Mỹ năm nay là năm thứ 25.
Em sinh ra không bình thường như những đứa trẻ khác. Sáu tháng tuổi, em bắt đầu có những hiện tượng lạ. Mẹ đưa em đi khám, và phát hiện em bị chứng Progeria - một căn bệnh hiếm gặp mà khoa học chưa thể chữa trị được. Em không bụ bẫm, không lớn lên theo vòng tay chờ đợi của cha mẹ, mà già nhanh từng ngày cùng những giọt nước mắt đau khổ của mẹ. Em lớn lên trong ánh mắt ướt nhòa ấy. Mỗi nếp nhăn xuất hiện sớm trên gương mặt non nớt của em lại hằn thêm một vết thương trong tim mẹ. Có những đêm, em tỉnh giấc, thấy mẹ ngồi lặng bên giường, bàn tay run run khẽ vuốt mái tóc đã mỏng và thưa của em, như sợ rằng chỉ cần một cái chạm mạnh thôi, những sợi tóc cuối cùng cũng sẽ rụng hết. Đêm nối ngày, mẹ hao gầy theo từng nhịp thở yếu ớt của em, nhưng ánh mắt mẹ chưa bao giờ rời đi, như muốn khắc vào hồn em một điều: “Con không đơn độc.”
Tôi quẹo xe vào tận cùng góc phải khu Almaden Safeway Center San Jose, CA, tìm được một chỗ đậu, và mở cửa bước ra ngoài. Ngọn gió cuối thu dịu dàng thổi qua những hàng cây trụi lá, mang theo chút hơi lạnh đầu đông, len vào từng góc khu shopping lớn của miền Bắc California. Bãi đậu xe của siêu thị Safeway chiều nay đông kín vì gần ngày Lễ Tạ Ơn, một trong những ngày lễ lớn của Hoa Kỳ. Dù chỉ mới đến Mỹ hơn ba năm, tôi cũng đã có khá nhiều kinh nghiệm về việc kiếm chỗ đậu xe ở cái shopping mall này khi đi mua sắm. Chọn đi xa một chút nơi cuối bãi thì dễ có chỗ trống và khỏi sợ ai đụng quẹt mình. Thấy trời còn chút nắng chiều, tôi bước trở lại xe lấy cái mũ rộng vành chụp lên đầu và đeo vào cặp kính râm. Đi ngang qua chỗ cái thùng rác dưới gốc một cây xanh, tôi xém vấp vào một người quần áo nhem nhuốc đầu trùm mũ áo lạnh sùm sụp với cái bao nylon lớn đen thùi lùi đựng đầy chai lon nhôm nhựa nằm cạnh bên...
Nhạc sĩ Cung Tiến